vanban.org

Bản án 64/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị R.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị R được ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 11/8/2022 ngày của Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị R.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Minh Quốc

2. Bà Lê Hiếu Xuyên

- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/02/2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị R, sinh năm 1994.

Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1992

Địa chỉ: K, xã Phú T, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn chị R có mặt. Bị đơn anh B vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị R trình bày:

Chị với anh Nguyễn Văn B quyết định chung sống vào năm 2022, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Thời gian đầu vợ chồng cùng làm công nhân và chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau này bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh B ăn nhậu say xỉn, không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị đã một lần gửi đơn ly hôn đến Tòa án nhưng do anh B năn nỉ nên chị đã quay lại sống chung và rút đơn. Nhưng sau khi quay lại sống chung được khoảng hơn 01 tháng thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng cãi nhau, anh B đánh chị và vô tình làm cánh cửa phòng dập hai ngón tay buộc phải cắt bỏ mỗi ngón một lóng. Mặc dù bị thương như vậy nhưng anh B không đưa chị đi bệnh viện mà bỏ về quê sống cho đến nay. Chị với anh B cũng chính thức sống ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nhận thấy hiện nay không còn tình cảm và cũng không thể hàn gắn lại được nên chị R yêu cầu giải quyết những vấn đề sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị R xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

+ Về quan hệ con chung: không có.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn B: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh B nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh B vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị R.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa nên đã tự từ bỏ quyền của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị R được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.

Chị R là nguyên đơn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Văn B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp K, xã Phú T, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B.

Về nội dung tranh chấp:

Chị Nguyễn Thị R và anh Nguyễn Văn B chung sống với nhau từ năm 2022 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 11/8/2022. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị R, thấy: chị R và anh B đã sống ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Từ khi sống ly thân chị R và anh B không gặp nhau nên không có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 09/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn cũng thể hiện rõ hiện nay chị R và anh B không còn sống chung với nhau. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh B vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị R để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị R và anh B không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bé.

Về quan hệ con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

Về án phí: chị R là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, điều 9, điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị R.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị R được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 11/8/2022 ngày của Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị R và anh Nguyễn Văn B phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị R phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011532 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo:

- Chị Nguyễn Thị R được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Anh Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ