- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hà Văn T - Tôn Nữ Thị N"
- Tòa quyết gì? Xác định ông Hà Văn T là cha đẻ của cháu trai do bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Nữ Thị Nở) sinh ra với tên dự định đặt là Hà Văn Quang M (sinh ngày 24/9/2020, số Giấy chứng sinh: 2020000343, quyển số/Số VV: 20017117, cấp ngày 26/9/2020, nơi cấp: Bệnh viên Trung Ương H).
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ H TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 7 - 2023. "V/v xác định cha cho con " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH T
-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
Ông Nguyễn Hữu Trực.
-Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H: Ông Lê Văn Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H (số 60 Nguyễn Huệ, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 572/2022/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022; về việc: "Xác định cha cho con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1960; Nơi cư trú: 02/10 D, phường G, thành phố H, tỉnh T - có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ồng Nguyễn Hoài N – Luật sư thuộc Công ty Luật Hợp danh T. Địa chỉ: 99 N, phường Đ, thành phố H - có mặt.
- Bị đơn: Bà Tôn Nữ Thị N (Tức Tôn Nữ Thị N), sinh năm 1986. Nơi cư trú: Lô H14 đường T, phường G, thành phố H, tỉnh T - có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Lô D7, khu tái định cư P (39 N), phường P, thành phố H, tỉnh T - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân thành phố H, nguyên đơn ông Hà Văn T trình bày: Vào năm 2019, ông Hà Văn T đã quen biết và quan hệ tình cảm với bà Tôn Nữ Thị N, kết quả là bà Tôn Nữ Thị N đã mang thai. Đến ngày 24/9/2020, bà N đã sinh 01 bé trai tại Bệnh viện Trung Ương H là con của ông Hà Văn T và đặt tên là Hà Văn Quang M. Do một số việc cá nhân nên ông chưa làm thủ tục nhận con theo quy định của pháp luật. Sau này khó khăn hơn vì do bà N luôn né tránh, không hợp tác để cho ông làm thủ tục nhận con nên đã phát sinh tranh chấp. Nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận cháu Hà Văn Quang M là con đẻ của ông.
Bà Tôn Nữ Thị N là bị đơn thừa nhận những lời khai của ông Hà Văn T là đúng sự thật, nhưng do ông Hà Văn T chưa ly hôn với vợ là bà Hàng Thị Kim L và bà cũng chưa ly hôn được với chồng là ông Nguyễn Phi H. Vì ông Hùng đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2009 đến nay không liên lạc, không có tin tức gì, hiện bà không biết ông Hùng đang ở đâu nên không thể giải quyết ly hôn giữa bà và ông Hùng được. Nay ông Hà Văn T khởi kiện tại Tòa án yêu cầu xác định cháu Hà Văn Quang M, sinh ngày 24/9/2020 do bà sinh ra (theo Giấy chứng sinh số 2020000343, quyển số/ Số VV: 20017117 ngày 26/9/2020 tại Bệnh viện Trung Ương H) là con đẻ của ông Hà Văn T thì bà đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Phi H. Quá trình giải quyết vụ án, xác minh tại Công an phường Phú Hậu, thành phố H cho biết ông Nguyễn Phi H có hộ khẩu thường trú tại Lô D7, khu định cư Phú Hậu, thành phố H, tỉnh T. Qua kiểm tra ông Nguyễn Phi H hiện không sinh sống tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan cho ông Nguyễn Phi H theo quy định của pháp luật.
Theo kết quả xét nghiệm ADN của Viện pháp y Quốc gia, kết luận: Ông Hà Văn T có quan hệ huyết thống cha – con với cháu bé có tên dự kiến Hà Văn Quang M (do bà Tôn Nữ Thị N sinh ra vào ngày 24/9/2020 theo giấy chứng sinh ngày 26/9/2020 của Bệnh viện Đa khoa TW H, tỉnh T), độ tin cậy 99,9999%.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: ông Hà Văn T và bà Tôn Nữ Thị N thống nhất trình bày, bà N và ông Nguyễn Phi H có quan hệ vợ chồng, nhưng từ năm 2009 đến nay ông Hùng đi đâu làm gì không liên lạc gì với bà N. Trong thời gian hôn nhân hợp pháp với ông Hùng, bà N có quan hệ tình cảm với ông Hà Văn T và sinh ra cháu bé tên dự sinh là Hà Văn Quang M, sinh ngày 24/9/2020 (theo giấy chứng sinh ngày 26/9/2020 của Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Huế, tỉnh T). Trình bày của các đương sự phù hợp với kết quả giám định ADN của Viện pháp y Quốc gia, kết luận: Ông Hà Văn T có quan hệ huyết thống cha – con với cháu bé có tên dự kiến Hà Văn Quang M (do bà Tôn Nữ Thị N sinh ra vào ngày 24/9/2020 theo giấy chứng sinh ngày 26/9/2020 của Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Huế, tỉnh T, độ tin cậy 99,9999%. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định ông Hà Văn T là cha đẻ của cháu bé dự sinh là Hà Văn Quang M, sinh ngày 24/9/2020 (theo Giấy chứng sinh số 2020000343, quyển số/ Số VV: 20017117 ngày 26/9/2020 tại Bệnh viện Trung Ương H).
Về án phí: Ông Hà Văn T không phải nộp án phí sơ thẩm, bị đơn là bà Tôn Nữ Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí xác định cha cho con.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Hà Văn T, xử: Xác định ông Hà Văn T là cha đẻ của cháu bé tên dự sinh là Hà Văn Quang M, sinh ngày 24/9/2020 (theo Giấy chứng sinh số 2020000343, quyển số/ Số VV: 20017117 ngày 26/9/2020 tại Bệnh viện Trung Ương Huế).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về việc xác nhận cha cho con. Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh T.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Phi H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng ông Hùng theo quy định tại khoản 2 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung:
Xét yêu cầu xác nhận cha cho con của ông Hà Văn T: Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, bà Tôn Nữ Thị N kết hôn với ông Nguyễn Phi H vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường Phú Cát, thành phố H (Nay là phường G). Đến năm 2009 ông Hùng đi khỏi địa phương cho đến nay không về, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay không liên lạc gì với nhau, bà N không biết hiện ông Hùng đang sinh sống ở đâu.
Trong thời gian ông Nguyễn Phi H đi khỏi địa phương không liên lạc với bà N, bà N có quen biết và có quan hệ tình cảm với ông Hà Văn T, đã sinh 01 bé trai dự định đặt tên là Hà Văn Quang M, sinh ngày 24/9/2020 (theo Giấy chứng sinh số 2020000343, quyển số/ Số VV: 20017117 ngày 26/9/2020 tại Bệnh viện Trung Ương H). Bà N, ông T đều thừa nhận, cháu bé dự định đặt tên Hà Văn Quang M do bà Tôn Nữ Thị N sinh là con đẻ của ông Hà Văn T và cũng được ông T xác nhận và ông T là người yêu cầu Tòa án xác định ông là cha đẻ của cháu Hà Văn Quang M.
Theo Kết quả xét nghiệm ADN của Viện pháp y Quốc gia, kết luận: Ông Hà Văn T có quan hệ huyết thống cha – con với cháu bé có tên dự kiến Hà Văn Quang M (do bà Tôn Nữ Thị N sinh ra vào ngày 24/9/2020 theo giấy chứng sinh ngày 26/9/2020 của Bệnh viện Đa khoa Trung Ương H, tỉnh T), độ tin cậy 99,9999%.
Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hà Văn T xác định ông Hà Văn T là cha đẻ của cháu trai do bà Tôn Nữ Thị N sinh ra với tên dự định đặt là Hà Văn Quang M, sinh ngày 24/9/2020 (theo Giấy chứng sinh số 2020000343, quyển số/ Số VV: 20017117 ngày 26/9/2020 tại Bệnh viện Trung Ương H).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T được chấp nhận nên bị đơn bà Tôn Nữ Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng ông Hà Văn T tự nguyện nộp thay bà Tôn Nữ Thị N và đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T, cụ thể:
1. Xác định ông Hà Văn T là cha đẻ của cháu trai do bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Nữ Thị Nở) sinh ra với tên dự định đặt là Hà Văn Quang M (sinh ngày 24/9/2020, số Giấy chứng sinh: 2020000343, quyển số/Số VV: 20017117, cấp ngày 26/9/2020, nơi cấp: Bệnh viên Trung Ương H).
2. Về án phí dân sự: Bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Nữ Thị Nở) phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng ông Hà Văn T tự nguyện nộp thay; ông T đã nộp đủ 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/0004393 ngày 04/8/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố H.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Hà Văn T và bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Nữ Thị Nở) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Phi H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; -Viện kiểm sát NDTp H; -Tòa án ND tỉnh TT-H; -Chi cục THADS Tp H; -Lưu. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH T BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 10 ngày 03 tháng 7 năm 2023; Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố H (60 Nguyễn Huệ, Huế) Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Dung tháng 8 năm 2022, về việc: “Xác định cha cho con”, giữa các đương sự; phường G, thành phố H, tỉnh T. Nam – Luật sư thuộc Công ty Luật Hợp danh Thiên Hà. Địa chỉ: 99 Nhật Lệ, phường Đông Ba, thành phố H. Lô H14 đường Thế Lại, phường G, thành phố H, tỉnh T. 1984. Nơi cư trú: Lô D7, khu tái định cư Phú Hậu (39 Nguyễn Đình Tân), phường Phú Hậu, thành phố H, tỉnh T. tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: [1].Về điều luật áp dụng: - Ý kiến của HTND ông Nguyễn Hữu Trực. Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; và Gia đình năm 2014; 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T, cụ thể: - Ý kiến của HTND bà Đoàn Thị Thanh Nhàn: Đồng ý. - Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa bà Lê Thị Phương Dung: Đồng ý. [2]. Về nội dung: - Ý kiến của HTND ông Nguyễn Hữu Trực. Nữ Thị Nở) sinh ra với tên dự định đặt là Hà Văn Quang M (sinh ngày 24/9/2020, số Giấy chứng sinh: 2020000343, quyển số/Số VV: 20017117, cấp ngày 26/9/2020, nơi cấp: Bệnh viên Trung Ương Huế). - Ý kiến của HTND bà Đoàn Thị Thanh Nhàn: Đồng ý. - Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa bà Lê Thị Phương Dung: Đồng ý. [3]. Về án phí dân sự: - Ý kiến của HTND ông Nguyễn Hữu Trực. sơ thẩm, nhưng ông Hà Văn T tự nguyện nộp thay; ông T đã nộp đủ 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/0004393 ngày 04/8/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố H. - Ý kiến của HTND bà Đoàn Thị Thanh Nhàn: Đồng ý. - Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa bà Lê Thị Phương Dung: Đồng ý. [4]. Về quyền kháng cáo: - Ý kiến của HTND ông Nguyễn Hữu Trực. cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Phi H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. - Ý kiến của HTND bà Đoàn Thị Thanh Nhàn: Đồng ý. - Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa bà Lê Thị Phương Dung: Đồng ý. [5]. Về quyền yêu cầu thi hành án: - Ý kiến của HTND ông Nguyễn Hữu Trực. hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. - Ý kiến của HTND bà Đoàn Thị Thanh Nhàn: Đồng ý. - Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa bà Lê Thị Phương Dung: Đồng ý. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày. xử cùng nghe và ký tên dưới đây. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Bài viết liên quan Thủ tục xác định cha cho con? Những ai có ý định sống thử hãy đọc qua bài này Trách nhiệm của người cha đối với con trong trường hợp chưa kết hôn Bồi thường tuổi thanh xuân Thực tiễn xác định cha, mẹ, con và những vấn đề cần trao đổi Bản án/QĐ liên quan cùng nội dung Bản án về tranh chấp xác định con cho cha và buộc giao con số 31/2017/HNGĐ-PT Bản án 60/2017/HNGĐ-ST ngày 03/07/2017 về xác định cha cho con Bản án 973/2017/QĐDS-ST ngày 26/07/2017 về xác định cha cho con Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines) _ Fax: (028) 3930 3009 E-mail: [email protected] Trang chủ Các Gói Dịch Vụ Online Phần mềm THƯ VIỆN PHÁP LUẬT Hướng Dẫn Sử Dụng Giới Thiệu Liên Hệ Lưu trữ Đăng ký Tài khoản Thỏa Ước Dịch Vụ Tra cứu pháp luật Tra cứu Công văn Tìm kiếm luật sư Tra cứu Tiêu Chuẩn Việt Nam Cộng đồng ngành luật Biểu thuế WTO Bảng giá đất | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Lê Thị Phương Dung CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn. Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 572/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 - Nguyên đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1960; Nơi cư trú: 02/10 Diệu Đế, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ồng Nguyễn Hoài - Bị đơn: Bà Tôn Nữ Thị N (Tức Tôn Nữ Thị Nở), sinh năm 1986. Nơi cư trú: - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phi H, sinh năm Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày Biểu quyết: 3/ 3 Xác định ông Hà Văn T là cha đẻ của cháu trai do bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Biểu quyết: 3/ 3. Bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Nữ Thị Nở) phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự Biểu quyết: 3/ 3 Ông Hà Văn T và bà Tôn Nữ Thị N (tức Tôn Nữ Thị Nở) được quyền kháng Biểu quyết: 3/ 3 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Biểu quyết: 3/ 3 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét |