vanban.org

Bản án 64/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C đối với bị đơn ông Trần Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thủy C và ông Trần Văn T. Về con chung: Trần Thị Huỳnh N (Nữ, sinh ngày 24/09/1996); Trần Minh K (Nam, sinh ngày 08/08/1999) và Trần Thị Huỳnh Tr, (Nữ, sinh ngày 06/06/2003) hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động tự n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "ND Huỳnh Thủy C; BD Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C đối với bị đơn ông Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 02/8/2023
V/v Tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Trung nghĩa

Ông Trịnh Văn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 02/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 4 năm 2023, về việc “Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ,ngày 27/6/2023 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thủy C, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp B, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2023 (BL01), biên bản ghi lời khai ngày 08/5/2023 cũng N quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C trình bày: Bà Huỳnh Thủy C và ông Trần Văn T kết hôn vào năm 1995, có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương Nng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu cả 2 chung sống rất hạnh phúc và ở cùng nhà với Cha Mẹ chồng của bà C. Một thời gian sau bà C và ông T có nhà riêng tại Ấp B, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và sống tại đây cho đến nay. Đến năm 2003 thì bà C và ông T phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không thể hàn gắn được nữa. Trong thời gian chung sống với ông T có 03 người con chung: Trần Thị Huỳnh N (Nữ, sinh ngày 24/09/1996); Trần Minh K (Nam, sinh ngày 08/08/1999) và Trần Thị Huỳnh Tr, (Nữ, sinh ngày 06/06/2003) hiện nay các con chung đều đã thành niên. Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, nên bà Huỳnh Thủy C yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ sống chung với ông Trần Văn T không phải là quan hệ vợ chồng. Về con chung: Cháu Trần Thị Huỳnh N (Nữ, sinh ngày 24/09/1996); Trần Minh K (Nam, sinh ngày 08/08/1999) và Trần Thị Huỳnh Tr, (Nữ, sinh ngày 06/06/2003) đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 08/5/2023 (BL25-26) ông T thống nhất theo ý kiến trình bày trong đơn khởi kiện và Thông báo thụ lý ông T nhận được ngoài ra ông T không có ý kiến gì trình bày thêm.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận mối quan hệ chung sống giữa bà C và ông T là vợ chồng. Về con chung các con của bà C và ông T hiện đã thành niên, đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Tài sản chung: tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về nợ chung: không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về nghĩa vụ Cu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông T, Nng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố quan hệ chung sống giữa bà bà C và ông T không phải là vợ chồng do hai người chung sống với nhau, nhưng không có đăng ký kết hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C và bị đơn ông Trần Văn T là tranh chấp về hôn nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ tại ấp B, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C và bị đơn ông Trần Văn T thấy rằng: Bà C và ông T chung sống với nhau từ năm 1995, Nng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau N vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng…”. Tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 8016/VBHN-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình “Nam và nữ chung sống với nhau N vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Bà C và ông T chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn, nên theo quy định nêu trên pháp luật không công nhận bà C và ông T là vợ chồng.

Về con chung: Bà C và ông T cùng thừa nhận quá trình chung sống với nhau có 03 người con chung gồm: Trần Thị Huỳnh N (Nữ, sinh ngày 24/09/1996); Trần Minh K (Nam, sinh ngày 08/08/1999) và Trần Thị Huỳnh Tr, (Nữ, sinh ngày 06/06/2003) hiện nay các con chung đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân và tại phiên tòa hôm nay bà C cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bà C phải Cu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thủy C đối với bị đơn ông Trần Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thủy C và ông Trần Văn T.

- Về con chung: Trần Thị Huỳnh N (Nữ, sinh ngày 24/09/1996); Trần Minh K (Nam, sinh ngày 08/08/1999) và Trần Thị Huỳnh Tr, (Nữ, sinh ngày 06/06/2003) hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung: Các đương sự khẳng định tự thỏa thuận phân chia với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Các đương sự khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thủy C phải Cu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, Nng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0007898 ngày 11/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. N vậy, bà C đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Ông Trần Văn T không phải Cu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ