vanban.org

Bản án 64/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N với bị đơn ông Võ Thanh C.

Về hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung giữa bà Huỳnh Thị Cẩm N với bị đơn ông Võ Thanh C không phải là quan hệ vợ chồng. Về con chung: Giao cho ông Võ Thanh C được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014 cho đến khi cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "BA Nguyễn T H C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N với bị đơn ông Võ Thanh C.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2023
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

2. Ông Ngô Văn Cơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Võ Thanh C, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ghi ngày 28 tháng 02 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N trình bày:

Bà Huỳnh Thị Cẩm N và ông Võ Thanh C kết hôn năm 2006, và không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, bà Huỳnh Thị Cẩm N và ông Võ Thanh C chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến đời sống chung không thể hòa hợp, hôn nhân không có tiếng nói chung, tình trạng hôn nhân ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nay bà Huỳnh Thị Cẩm N yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ sống chung của bà Huỳnh Thị Cẩm N với ông Võ Thanh C không phải là mối quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Thời gian chung sống bà Huỳnh Thị Cẩm N và ông Võ Thanh C có hai con chung tên Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014, hiện nay hai con đang ở cùng ông Võ Thanh C. Bà Huỳnh Thị Cẩm N đồng ý nhường quyền nuôi con chung tên Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014 cho ông Võ Thanh C nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà Huỳnh Thị Cẩm N không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Võ Thanh C trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn về thời điểm bắt đầu chung sống, thời gian chung sống và con chung. Tuy nhiên, ông C cho rằng khi kết hôn thì có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T và có Giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, không đáng để ly hôn. Thời gian chung sống ông và bà N có hai con chung tên Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014, hiện nay hai con đang ở cùng ông Võ Thanh C. Nếu ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi cả hai cháu, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố quan hệ sống chung giữa nguyên đơn và bị đơn không phải là quan hệ vợ chồng. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho ông C được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014 đến khi các cháu đủ 18 tuôi. Bà Huỳnh Thị Cẩm N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đề nghị tuyên án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N, bị đơn ông Võ Thanh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ sống chung giữa bà N và ông C không phải là quan hệ vợ chồng, bị đơn cư trú tại ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Do đó căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là Không công nhận quan hệ vợ chồng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn đã xác lập cuộc sống chung vào năm 2006 trên tinh thần tự nguyện và đã có với nhau hai người con chung nhưng không đăng ký kết hôn. Xét lời trình bày về tình trạng hôn nhân của bà Huỳnh Thị Cẩm N, căn cứ Tờ khai cấp bản sao trích lục hộ tịch của bà Huỳnh Thị Cẩm N tại Ủy ban nhân dân xã T; Căn cứ vào giấy khai sinh con mà nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn Huỳnh Thị Cẩm N về quan hệ sống chung như vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị Cẩm N và ông Võ Thanh C nhưng không đăng ký kết hôn là sự thật. Việc nguyên đơn và bị đơn đã có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng trong quá trình chung sống lại không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo đúng trình tự thủ tục và không có giấy tờ chứng minh đã kết hôn, đồng thời cuộc sống chung của nguyên đơn và bị đơn phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ quy định tại điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Việc ông Võ Thanh C cho rằng thời điểm kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T và có Giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên, ông C không cung cấp được Giấy chứng nhận kết hôn hoặc các tài liệu chứng cứ khác chứng minh cho lời trình bày là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét chấp nhận.

Về con chung: Bà Huỳnh Thị Cẩm N và ông Võ Thanh C đã có với nhau 02 người con chung là Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014 hiện đang sống với ông C. Ông C có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và bà N cũng đồng ý để cho ông C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy nhằm để ổn định cuộc sống hiện tại và không làm ảnh hưởng đến tâm lý của con chung, để con chung được phát triển tốt về thể chất và tinh thần thì Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cho ông C được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014 đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà Huỳnh Thị Cẩm N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Bà Huỳnh Thị Cẩm N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Võ Thanh C không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2 Điều 143, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm N với bị đơn ông Võ Thanh C.

1. Về hôn nhân: Tuyên bố quan hệ sống chung giữa bà Huỳnh Thị Cẩm N với bị đơn ông Võ Thanh C không phải là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cho ông Võ Thanh C được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Võ Huỳnh Thảo N1, sinh ngày 31/01/2007 và Võ Khải N2, sinh ngày 08/6/2014 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà Huỳnh Thị Cẩm N được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng: Ông Võ Thanh C không yêu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn Huỳnh Thị Cẩm N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0007382 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, bà Huỳnh Thị Cẩm N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết, tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ