- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính"
- Tòa quyết gì? 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
- Căn cứ chính? Điều 158 Luật Tố tụng hành chính; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 64/2023/HC-ST Ngày: 17/07/2023 |
V/v: khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Sáng Bà Lê Thị Hằng - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên. Ngày 17/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 55/2022/TLST-HC ngày 05/5/2022 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/QĐXXST-HC ngày 04 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2022/TB-TA ngày 18/11/2022; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 17/2022/QĐST-HC ngày 25/11/2022; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 192/TB-TA ngày 19/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/TB-TA ngày 07/07/2023, giữa các đương sự: - Người khởi kiện: Bà Yên Thị Tố N, sinh năm 1972. Nơi cư trú: khu phố 1, phường Ph, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khu phố 1, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (có mặt) - Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B. Địa chỉ: KDC Bắc Xuân An, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Phan Thành L – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P (có mặt) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND thành phố P: Ông Võ Văn P – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2022 và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Hộ gia đình bà N là người bị Nhà nước thu hồi đất để làm dự án đường Lê Duẩn, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Tại Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P, hộ gia đình bà N được đền bù lô đất ký hiệu L2.53, diện tích 100m2 tọa lạc tại Khu tái định cư Đ, phường Ph, thành phố P, theo diện giải tỏa. Căn cứ vào đó, hộ gia đình bà N nhiều lần nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đều bị Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P từ chối, vì lý do dừng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố P. Bà N đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ để được giao đất, nên việc từ chối cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà N là không có căn cứ. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án: - Hủy Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 05/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc phúc đáp tạm dừng hồ sơ hành chính của bà Yên Thị Tố N. - Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Yên Thị Tố N, theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P về việc giao đất ở cho hộ ông Y. Tại Văn bản số 1972/VPĐKĐĐ -ĐKCG ngày 03/10/2022, người bị kiện trình bày: 1. Về hồ sơ giao đất và cấp giấy chứng nhận của ông Y Ngày 24/12/2018, Trung Tâm phát triển quỹ đất tỉnh có Công văn số 5032/PTQĐ-QLQĐ về việc thông báo giao lô đất ký hiệu số 53, dãy L2, thửa 83 thuộc quỹ đất khu tái định cư Đ (mặt đường Võ Văn Kiệt) đối với ông Y, cư ngụ tại khu phố 01, phường Ph, thành phố P. Theo đó, hộ ông Y thuộc diện có nhà ở, đất ở hợp pháp thuộc công trình đường Lê Duẩn, được bồi thường bằng đất ở. Ngày 28/12/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 10157/QĐ- UBND về việc giao đất cho hộ ông Y, với diện tích 100,0m2, tại khu tái dịnh cư
Đ, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn. Ngày 30/6/2020, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giao đất); kèm theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P. Qua rà soát hồ sơ hiện đang lưu trữ, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P có nhận được Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019 của UBND thành phố P về việc dừng tham mưu giải quyết hồ sơ giao đất. Theo đó, UBND thành phố P đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P và Phòng Tài nguyên & Môi trường thành phố P tạm thời dừng xem xét giải quyết hồ sơ xin giao đất, hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất đối với các hộ dân thuộc dự án đường Lê Duẩn (trong đó có hộ ông Y); lý do: Thanh tra tỉnh đang thẩm tra lại việc giao đất đối với các trường hợp được bồi thường bằng đất ở và giải quyết đất ở có thu tiền sử dụng đất theo diện bức xúc chỗ ở đối dự án trên. Thực hiện Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019 của UBND thành phố P; Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P đã tạm dừng giải quyết hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Y. 2. Về hồ sơ nhận thừa kế bằng quyền sử dụng đất từ ông Y sang bà Yên Thị Tố N đối với khu đất trên Ngày 27/12/2021, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Yên Thị Tố N do nhận thừa kế từ ông Y, đối với diện tích 100,0m2, tại khu tái định cư Đ, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn được UBND thành phố P giao đất tại Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018. Thực hiện theo chỉ đạo của UBND thành phố P tại Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P có Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 05/01/2022 gửi bà Yên Thị Tố N về việc tạm dừng giải quyết hồ sơ hành chính của bà N; lý do: Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P đang chờ ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố P về kết quả giải quyết đối với các hồ sơ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường Lê Duẩn. Do hiện nay, UBND thành phố P đang rà soát, khắc phục những sai sót liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường Lê Duẩn theo kết luận của Thanh tra tỉnh B nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P tạm dừng giải quyết hồ sơ của bà Yên Thị Tố N theo chỉ đạo của UBND thành phố P. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:
Ngày 05/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận có Thông báo về việc thụ lý vụ án số 55/2022/TLST-HC; Ngày 10/5/2022, Tòa án có Thông báo số 69/TB-TA về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Ngày 13/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận có Thông báo số 164/TB-TA về việc thông báo giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp tài liệu, chứng cứ; yêu cầu độc lập gửi cho UBND thành phố P. Ngày 27/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại nhưng Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P vắng mặt chỉ cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp; đồng thời cũng không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và cũng không có yêu cầu độc lập. Ngày 27/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tiếp tục có Thông báo số 111/TB-TA về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Ngày 30/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại nhưng Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P vắng mặt chỉ cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp nên không thể tiến hành đối thoại được. Ngày 13/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh có Thông báo số 166/TB-TA về việc thông báo giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp tài liệu, chứng cứ; yêu cầu độc lập gửi cho UBND thành phố P; Ngày 28/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh tiếp tục có Công văn số 187/CV-THC về việc đề nghị cung cấp thông tin và tài liệu, chứng cứ gửi UBND thành phố P. Tại công văn số 3849/UBND-NC ngày 11/7/2023 của UBND thành phố P trình bày: Lô đất L2.53, khu tái định cư Đ, phường Ph, thành phố P, diện tích 100,0m2 đất ở đô thị được UBND thành phố P giao đất có thu tiền sử dụng đất cho hộ ông Y theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 (theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo). Ngày 26/11/2019, Phòng Tài nguyên & Môi trường có Công văn số 3749/TNMT-DA về việc tham mưu tạm dừng giải quyết hồ sơ giao đất đối với một số hộ dân thuộc dự án đường Lê Duẩn, lý do: Thanh tra tỉnh đã có kết luận thanh tra về việc tái định cư và giao đất ở có thu tiền sử dụng đất cho toàn bộ Dư án đường Lê Duẩn. Theo đó, UBND thành phố P có Công văn số 8972/UBND
TC ngày 03/12/2019 về việc dừng tham mưu giải quyết hồ sơ giao đất đối với một số hộ dân được giao đất ở thuộc dự án đường Lê Duẩn. Ngày 28/7/2020, UBND tỉnh Bình Thuận có Thông báo Mật số 297/TB- UBND về kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp nghe báo cáo kết quả rà soát, kiểm tra công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án đường Lê Duẩn, trong đó có nội dung như sau: Giao Chủ tịch UBND thành phố P: Tạm dừng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp …quyền sử dụng đất (đối với các lô đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đối với các trường hợp được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc Dự án đường Lê Duẩn. Đồng thời, kiểm tra, rà soát để xử lý, giải quyết đúng quy định pháp luật đối với các trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc Dự án đường Lê Duẩn. Như vậy, căn cứ ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Thông báo Mật số 297/TB-UBND ngày 28/7/2020, UBND thành phố P cho rằng việc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P tạm dừng giải quyết hồ sơ của bà Yên Thị Tố N là đúng quy định của pháp luật. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 7, Điều 32, Điều 116; Điểm c khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Yên Thị Tố N. Tuyên xử: Hủy Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 05/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P; Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy: [1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Yên Thị Tố Nga khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 15/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P về việc phúc đáp tạm dừng hồ sơ hành chính của bà Yên Thị Tố N; đồng thời buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P phải thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà theo đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy, quyết định hành chính và hành vi hành chính trên có nội dung điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 3 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính. [2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 05/01/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B ban hành Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT về việc phúc đáp tạm dừng hồ sơ hành chính của bà Yên Thị Tố N, có chứa đựng nội dung không giải quyết hồ sơ của bà N. Ngày 13/4/2022, bà Yên Thị Tố N nộp đơn khởi kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B tại Tòa án, là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015. [3] Tại phiên tòa, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện và UBND thành phố P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 của Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. [4] Tính hợp pháp của Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 05/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P: [4.1] Về trình tự, thẩm quyền: Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thông qua các Chi nhánh Văn phòng đất đai tại huyện, thành phố. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thành phố P thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B tiếp nhận là đúng thẩm quyền và trình tự theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai; Điều 70, Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 9, Điều 11 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. [4.2] Về nội dung: Ngày 24/12/2018, Trung Tâm phát triển quỹ đất tỉnh có Công văn số 5032/PTQĐ-QLQĐ về việc thông báo giao lô đất ký hiệu số 53, dãy L2, thửa 83 thuộc quỹ đất khu tái định cư Đ (mặt đường Võ Văn Kiệt) đối với ông Y, cư ngụ tại khu phố 01, phường Ph, thành phố P. Theo đó, hộ ông Yên Yinh thuộc diện có nhà ở, đất ở hợp pháp thuộc công trình đường Lê Duẩn, được bồi thường bằng đất ở. Ngày 28/12/2018, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 10157/QĐ- UBND về việc giao đất cho hộ ông Y, với diện tích 100,0m2, tại khu tái dịnh cư Đ, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn.
Ngày 30/6/2020, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giao đất); kèm theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P. Qua rà soát hồ sơ hiện đang lưu trữ, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P có nhận được Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019 của UBND thành phố P về việc dừng tham mưu giải quyết hồ sơ giao đất. Theo đó, UBND thành phố P đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P và Phòng Tài nguyên & Môi trường thành phố P tạm thời dừng xem xét giải quyết hồ sơ xin giao đất, hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất đối với các hộ dân thuộc dự án đường Lê Duẩn (trong đó có hộ ông Y); lý do: Thanh tra tỉnh đang thẩm tra lại việc giao đất đối với các trường hợp được bồi thường bằng đất ở và giải quyết đất ở có thu tiền sử dụng đất theo diện bức xúc chỗ ở đối dự án trên. Ngày 27/12/2021, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Yên Thị Tố N do nhận thừa kế từ ông Y, đối với diện tích 100,0m2, tại khu tái định cư Đ, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn được UBND thành phố P giao đất tại Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018. Thực hiện theo chỉ đạo của UBND thành phố P tại Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019; Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019 có Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 05/01/2022 gửi bà Yên Thị Tố N về việc tạm dừng giải quyết hồ sơ hành chính của bà N; lý do: Hiện nay Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P đang chờ ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố P về kết quả giải quyết đối với các hồ sơ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường Lê Duẩn. [5] Xét về nội dung vụ án: [5.1] Căn cứ công văn số 5032/PTQĐ-QLQĐ ngày 24/12/2018 của Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh B về việc thông báo giao lô đất ký hiệu số 53, dãi L2, thửa 83 thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đ (mặt tiền đường Võ Văn Kiệt) đối với hộ ông Y, cư ngụ tại khu phố 01, phường Ph, thành phố P, có nội dung: “Hộ ông Y thuộc diện có nhà ở, đất ở hợp pháp thuộc công trình đường Lê Duẩn (đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo), thành phố P. Hộ ông Y được bồi thường bằng đất ở theo kết luận của Hội đồng như sau: ...Đủ điều kiện bồi thường bằng đất ở theo quy định tại vị trí quỹ đất tái định cư theo Điều 74, 75; Điểm a khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 NGhị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 4, 5 của Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh Bình Thuận. Giao Trung
tâm tính toán số tiền bồi thường đất ở 120,9m2 để có cơ sở tính toán tiền chênh lệch hạ tầng giữa diện tích đất ở được bồi thường so với vị trí đất ở bị thu hồi để yêu cầu hộ nộp hoặc nhận bổ sung (nếu có)…Ông Y đã bốc thăm đất tái định cư tại Biên bản họp ngày 10/12/2018, cụ thể: Hộ ông Y đã bốc thăm lô đất số 53, dãy L2, thửa đất sớ 83, diện tích 100,0m2 đất ở đô thị thuộc quỹ đất Khu tái định cư Đ (mặt tiền đường Võ Văn Kiệt), phường Ph, thành phố P.” Ngày 28/12/2018, UBND thành phố P đã ban hành Quyết định số 10157/QĐ-UBND, về việc giao đất cho hộ ông Y. Với nội dung: Giao cho hộ ông Y, địa chỉ phường Ph, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, lô đất ký hiệu L2.53, diện tích 100,0m2, tại Khu tái định cư Đ tại phường Ph, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn (đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo). Sau khi ông Y chết thì những người thừa kế theo pháp luật của ông Y có Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đề ngày 27/12/2021, đã được Văn phòng công chứng Trương Văn Cương ký công chứng số 9545 quyển số 10/2021TP/CC-SCC/HĐGD, với nội dung: Những người thừa kế của ông Y thống nhất tặng cho bà Yên Thị Tố N được quyền quản lý, sử dụng và toàn quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất ký hiệu: lô đất ký hiệu L2.53, tọa lạc tại Khu tái dịnh cư Đ, phường Ph, thành phố P, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo Quyết định về việc giao đất cho hộ ông Y số 10157/QĐ-UBND do UBND thành phố P cấp ngày 28/12/2018. [5.2] Xét về điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất ký hiệu L2.53, diện tích 100,0m2, tại Khu tái dịnh cư tại phường Ph, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn. Theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 100 của Luật đất đai năm 2013: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất: b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;” Tại khoản 3 Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai, quy định Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai quy định “
Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” Tại khoản 6 Điều 19 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai, các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, quy định: “Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Như vậy, hộ ông Y đã được UBND thành phố P ban hành Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018, về việc giao đất cho hộ ông Y. Với nội dung: Giao cho hộ ông Y, địa chỉ phường Ph, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, lô đất ký hiệu L2.53, diện tích 100,0m2, tại Khu tái dịnh cư Đ tại phường Ph, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn (đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo). Căn cứ quyết định này thì hộ ông Y có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cũng không cung cấp cho Tòa bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh đất hiện nay của hộ ông Y được giao theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND, ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P, đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P từ chối việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Y với lý lẽ “Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P đang chờ ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố P về kết quả giải quyết đối với các hồ sơ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường Lê Duẩn”. Căn cứ này là không phù hợp, vì không thuộc một trong các trường hợp không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai. [6] Tại Công văn số 608/CSKT-Đ4 ngày 01/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận về việc phúc đáp Công văn số 144/CV-THC ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh, có nội dung: “Căn cứ kiến nghị khởi tố của Thanh tra tỉnh và vụ án “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” xảy ra tại dự án đường Lê Duẩn, thành phố Phan Thiết do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bình Thuận đang thụ lý không có trường hợp nào liên quan đến việc giao đất cho hộ ông Y”. Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P ban hành Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày
05/01/2022 đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền nhưng không đúng về mặt nội dung theo quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Yên Thị Tố N. Vì vậy, bà Yên Thị Tố N yêu cầu hủy Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P là có cơ sở để được chấp nhận; đồng thời buộc người bị kiện phải thực hiện công vụ theo quy định để đảm bảo quyền lợi của bà N. [7] Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, nên không đặt ra để xem xét. [8] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Yên Thị Tố N được chấp nhận nên Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Yên Thị Tố N. Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 3 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Căn cứ Điều 90, Điều 95, Điều 100, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 18, Điều 19, Điều 70, Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Yên Thị Tố N. [1.1] Hủy Văn bản số 36/CNVPĐKĐĐPT ngày 05/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố P; [1.2] Hành vi hành chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B về việc từ chối việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất ký hiệu L2.53, diện tích 100,0m2, tại Khu tái dịnh cư Đ tại phường Ph, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn (đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo) theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P, là trái pháp luật. [1.3] Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ được giao trong
việc thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô đất ký hiệu L2.53, diện tích 100,0m2, tại Khu tái dịnh cư Đ tại phường Ph, thành phố P để sử dụng vào mục đích đất ở, theo diện giải tỏa dự án đường Lê Duẩn (đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo) theo Quyết định số 10157/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND thành phố P cho bà Yên Thị Tố N. 2. Về án phí: Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Yên Thị Tố N 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008243 ngày 26/4/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B. 3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND cấp cao; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, THC; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Hòa |