vanban.org

Bản án 64/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đối với phần lãi suất. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Võ Văn H tranh chấp Hà Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/DS-ST
Ngày: 13-06-2023
V/v Tranh chấp
hợp đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Phước Tâm.

2. Ông Trần Văn Bé Hai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 290/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Văn H - sinh năm 1981,

Là Chủ hộ kinh doanh H,

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Huỳnh Tuấn D - sinh năm 1991; địa chỉ: Khóm L, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; hiện đang cư trú: Số A đường P, khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An (theo hợp đồng ủy quyền ngày 22/02/2023).

- Bị đơn: Ông Hà Văn C - sinh năm 1961, Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời trình bày tại Tòa án, anh Huỳnh Tuấn D đại diện cho nguyên đơn trình bày như sau: Võ Văn H là người đại diện cho hộ kinh doanh H1, chuyên kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản. Giữa anh H và ông Hà Văn C có thỏa thuận mua bán thức ăn chăn nuôi, tính đến ngày 01/01/2017 thì ông C còn nợ của anh H số tiền 20.000.000 đồng, hai bên có xác lập giấy xác nhận nợ; anh H đã nhiều lần yêu cầu ông C trả nợ nhưng đến nay ông C vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ. Nay anh H khởi kiện yêu cầu ông Hà Văn C phải có nghĩa vụ trả số tiền mua bán thức ăn chăn nuôi còn nợ là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), nguyên đơn yêu cầu rút lại yêu cầu về lãi suất đối với ông C. Như vậy, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải trả số tiền mua bán tiền thức ăn chăn nuôi còn nợ là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

* Bị đơn ông Hà Văn C trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày cảu nguyên đơn về việc có thỏa thuận mua bán thức ăn gia súc, gia cầm với cửa hàng H2, do anh Võ Văn H đại diện chủ hộ kinh doanh. Ông có ký tên vào giấy xác nhận nợ với cửa hàng H2 vào ngày 01/01/2017. Hiện tại ông còn nợ anh H số tiền 20.000.000 đồng, ông cũng thống nhất trả số tiền này cho anh H. Ông C cho rằng sau ngày 01/01/2017 thì 02 bên có thực hiện việc mua bán thức ăn gia cầm (vịt) với số lượng 40 bao loại VINA nhãn hiệu Mặt trời, số tiền hơn 9.000.000 đồng, số thức ăn này ông đã thanh toán tiền xong nhưng chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu do cửa hàng H2 giao không đúng loại thức ăn (cụ thể là thức ăn hiệu CP) mà hai bên đã thỏa thuận dẫn dến số gia cầm không ăn, đại diện cửa hàng H2 có hứa sẽ giải quyết nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết cho ông nên ông đề nghị anh H phải trừ vào số tiền ông hiện còn thiếu nợ.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Bản sao Giấy xác nhận nợ đề ngày 01/01/2017. Đối với các chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp thì bị đơn đã biết nên không yêu cầu sao chụp lại. Bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả số tiền mua bán thức ăn chăn nuôi còn thiếu và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Do nơi cư trú bị đơn thuộc địa bàn huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn anh Võ Văn H đại diện cho hộ kinh doanh H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hà Văn C phải có trách nhiệm trả số tiền là mua thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản còn thiếu là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi; Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào giấy xác nhận nợ đề ngày 01/01/2017 mà nguyên đơn giao nộp đã thể hiện giữa Hộ kinh doanh H1 do anh Võ Văn H đại diện và bị đơn ông Hà Văn C có thỏa thuận mua bán thức ăn thủy sản, tính đến ngày 01/01/2017 thì số tiền bị đơn còn nợ của nguyên đơn là 20.000.000 đồng. Như vậy, đã thể hiện đúng như lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Hà Văn C thống nhất hiện còn nợ của anh Võ Văn H số tiền 20.000.000 đồng như lời trình bày của người đại diện nguyên đơn nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xác định giữa anh Võ Văn H (Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1) và ông Hà Văn C có thỏa thuận mua bán thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản với nhau, số tiền mà ông C hiện còn thiếu của anh H là 20.000.000 đồng nên việc anh H yêu cầu ông C phải có nghĩa vụ trả lại số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) là có cơ sở nên chấp nhận.

Đối với yêu cầu về lãi suất, theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả lãi suất 1%/tháng, thời hạn 59 tháng với số tiền 11.800.000 đồng nhưng tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên xin đơn rút lại yêu cầu về lãi suất đối với bị đơn nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Đối với ý kiến của ông C cho rằng sau ngày 01/01/2017 thì 02 bên có thực hiện việc mua bán thức ăn gia cầm với số lượng 40 bao, số tiền hơn 9.000.000 đồng nhưng chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu nên ông đề nghị anh H phải trừ vào số tiền ông còn thiếu như đã nêu trên. Hội đồng xét xử nhận định:

Việc ông C có ý kiến cho rằng sản phẩm là 40 bao thức ăn gia cầm (vịt đẻ) phía anh H giao không đạt yêu cầu, cụ thể là giao sai sản phẩm nhưng từ khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án đến nay mà ông C không có đơn yêu cầu phản tố theo quy định của pháp luật. Mặt khác, số lượng 40 bao thức ăn này ông C cho rằng đã trả tiền xong và cũng không liên quan gì đến số tiền còn nợ 20.000.000 đồng mà hai bên đã chốt nợ từ ngày 01/01/2017. Trường hợp ông C có yêu cầu thì sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông C thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí. Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1. Buộc bị đơn ông Hà Văn C phải có trách nhiệm trả cho anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh H - số tiền mua bán thức chăn nuôi còn thiếu là 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đối với phần lãi suất.

3. Về án phí:

- Ông Hà Văn C thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định của pháp luật nên được miễn nộp tiền án phí.

- Anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1 - không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 795.000 đồng (bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000520 ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

4. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ