- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HSST Ngày 27-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lê Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Vân
Ông Lê Bỉnh Quyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án ND huyện H
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Trọng B, sinh ngày 07 tháng 5 năm 1991 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng A (đã chết) và bà Chu Thị L, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Năm 2019, bị Tòa án nhân dân TP Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Lxử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2022 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quế, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1994. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Văn Th, sinh năm 1994. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn V3, xã Qu, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
Anh Trần Trọng Ng, sinh năm 1983. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Ph, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 13/3/2022, Trần Trọng B đi bộ từ nhà qua khu vực nhà chị Nguyễn Thị Th tại thôn Đ, xã Y, huyện H thì B phát hiện thấy chiếc xe mô tô BKS 36B2-060.42 của chị Th đang dựng trong sân, chìa khóa xe đang cắm trong ổ khóa. B mở cửa cổng đi vào sân trộm cắp chiếc xe mô tô dắt ra bên ngoài rồi điều khiển lên cánh đồng thuộc địa phận xã Hoằng Thịnh, huyện H cất giấu, kiểm tra trong cốp xe có một chiếc ví bằng vải bên trong có 800.000 đồng và giấy tờ đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Th, B lấy tiền tiêu sài. Khoảng 07 giờ ngày 14/3/2022, B lấy xe đã giấu điều khiển về thị trấn Bút Sơn và gọi cho anh Trần Trọng Ng đem chứng minh nhân dân đến và nhờ Ng đến để cắm xe của bạn nhờ cầm cố hộ. B điều khiển xe chở Ng đến cơ sở kinh doanh cầm đồ Minh Th của anh Lê Văn Th tại thôn V3, xã Qu, TP. Thanh Hóa để Ng đem xe mô tô vào cầm cố, được 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) Ng đưa cho B. B tiêu hết 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Chiều ngày 14/3/2022, Trần Trọng B đến Công an xã Y đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp số tiền cầm cố xe còn lại là 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng).
Đến 19 giờ ngày 14/3/2022, biết chiếc xe đã cầm cố là do phạm tội mà có, anh Lê Văn Th đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện H.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/CSĐT ngày 21/3/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: xe mô tô BKS 36B2-060.42, nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ - đen có giá trị 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Quá trình điều tra, Trần Trọng B còn khai nhận: ngày 16/02/2022, B đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đỏ đen BKS 36M1-3645 của chị Trần Thị Th, ở thôn Đ, xã Y, huyện H. Sau đó B đem xe đến phường Đông Hải, TP Thanh Hóa bán cho người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ nên không thu giữ được. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã yêu cầu định giá tài sản nhưng Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H và Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa đã từ chối định giá đối với chiếc xe BKS 36M1-3645 do không đủ điều kiện định giá. Vì vậy không đủ căn cứ xử lý đối với Trần Trọng B về hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 36M1-3645. Chị Trần Thị Th không có yêu cầu gì đối với chiếc xe mô tô 36M1-3645.
Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 36B2-060.42 cho chị Nguyễn Thị Th, chị Th không có yêu cầu gì thêm.
Đối với số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) do B cầm cố chiếc xe mô tô BKS 36B2-060.42 còn lại, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện H chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 61/CT-VKSHH ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Trần Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ Ng quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Trọng B. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử bị cáo từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Về hình phạt bổ sung: Do gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô BKS 36B2-060.42 bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị không xem xét.
Anh Lê Văn Th không biết xe nhận cầm cố là do phạm tội mà có, anh chỉ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền còn lại là 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) nên buộc bị cáo B trả lại cho anh Th số tiền trên.
Đối với Trần Trọng Ng do không biết xe mô tô B nhờ cầm cố là do B phạm tội mà có nên đã cầm cố lấy tiền hộ B. Do đó, đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH, do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Trọng B.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa:
Thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với cộng đồng và xã hội. Về trách nhiệm dân sự: Do anh Lê Văn Th chỉ đề nghị bị cáo phải trả lại cho anh số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) nên đề nghị buộc bị cáo phải trả số tiền trên cho anh Th. Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Trần Trọng B trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 12 giờ ngày 13/3/2022, lợi dụng sơ hở của gia đình chị Nguyễn Thị Th, bị cáo Trần Trọng B đã lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô BKS 36B2-060.42 của chị Th, được định giá có giá trị 7.000.000đ (Bảy triệu đồng), trong xe có số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng). Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 16/2021/HSST ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện L đã xử phạt bị cáo Trần Trọng B 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”, bị cáo Trần Trọng B phạm tội khi chưa được xóa án tích. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Trọng B đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 61/CT-VKSHH ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Trần Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Trần Trọng B đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần phải đưa ra mức hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và răn đe chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Nhận thấy, bị cáo nhiều lần phạm tội và đều đã bị đưa ra xét xử nhưng sau khi chấp hành án xong không lấy đó làm bài học, tự tu dưỡng và lao động chân chính mà lại tiếp tục chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác để tiêu sài cá nhân. Điều này cho thấy bị cáo rất coi thường pháp luật, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô BKS 36B2-060.42 bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.
Anh Lê Văn Th không biết xe nhận cầm cố là do phạm tội mà có, anh yêu cầu bị cáo trả lại số tiền còn lại là 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) nên trả lại cho anh Th số tiền trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Đối với Trần Trọng Ng do không biết xe mô tô B nhờ cầm cố là do B phạm tội mà có nên đã cầm cố lấy tiền hộ B nên không xem xét.
Về án phí: Do gia đình bị cáo Trần Trọng B thuộc hộ cận nghèo nên không buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Trần Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Trọng B 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 14/3/2022).
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Trọng B trả lại cho anh Lê Văn Th số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) hiện đang lưu giữ trong tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo ủy nhiệm chi lập ngày 28/7/2022 do đơn vị chuyển là Công an huyện H đến đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Trọng B.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND h.H; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS h.H; - CQĐT Công an h.H; - CQTHAHS Công an h. H; - Bị cáo; bị hại; - UBND xã T; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đỗ Thị Vân Lê Bỉnh Quyền | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Tú THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Tú |