vanban.org

Bản án 64/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 20/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Võ Chí T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a

Xử phạt Võ Chí T 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/02/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Chí T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê H đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Võ Chí T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS – ST
Ngày: 20/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Đăng – ông Nguyễn Bá Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã

Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà

Trịnh Ngọc Hồng Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2021/TLST – HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2021/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 11 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST – HS ngày 16/11/2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số 21/2022/TB –TA ngày 08/4/2022, đối với các bị cáo:

1. Võ Chí T (tên gọi khác: Tình lác) - Sinh năm 1990 tại tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: Ấp x, xã y, huyện z, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Lộc E (đã chết) và bà Nguyễn Thị N - SN 1960; Gia đình bị can có 06 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ, con: Không; Tiền án - Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 47/2014/HSST ngày 09/10/2014 Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999. Đã chấp hành xong các quyết định của Bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 03/02/2021, hiện đang bị tam giam

tại Nhà tạm giữ Công an TP Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

2. Lê H (tên gọi khác: Em trai) - Sinh năm 1984 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Nơi cư trú: Ấp x1, xã y1, huyện z1, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hu, sinh năm 1959 và bà Võ Thị P, sinh năm 1959; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Hà Thị Hồng T –SN 1985; con: 01 con sinh năm 2015.

Tiền sự:

+ Ngày 24/7/2009, bị Chủ tịch UBND huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục - Lao động - Xã hội tỉnh BR – VT;

+ Ngày 26/3/2012, bị Chủ tịch UBND huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục Lao động và Dạy nghề tỉnh BR – VT;

+ Ngày 08/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa –

Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục Lao động và Dạy nghề tỉnh BR – VT;

Tiền án: Bản án số 42/2021/HS – ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân

thị xã Phú Mỹ xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173. Hiện đang chấp hành án.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/6/2021, hiện đang chấp hành án tại Nhà tạm

giữ Công an TP Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1955; Cư trú tại: khu phố Quảng Phú,

phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; (vắng mặt)

2. Ông Bùi Hữu N – Sinh năm 1985; Cư trú tại: Thôn Nhơn Nghĩa, xã Nhơn

Nghĩa, huyện Phong Điền, tỉnh Cần Thơ; (vắng mặt)

3. Ông Huỳnh Tấn A – sinh năm 1989; Cư trú tại: Thôn Hưng Lợi, xã Đào

Hữu Cảnh, huyện Long Phú, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

4. Ông Nguyễn Công H – sinh năm 1994; Cư trú tại: Thôn Hưng Lợi, xã

Đào Hữu Cảnh, huyện Long Phú, tỉnh An Giang; (vắng mặt)

5. Ông Hồ Văn Út T – sinh năm 1995; Cư trú tại: Ấp Phước Lương, xã Phú

Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)

6. Ông Huỳnh Văn C – sinh năm 2000; Cư trú tại: Thị trấn Cái Nước, huyện

Cái Nước, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)

7. Ông Nguyễn Văn D – sinh năm 1976; Cư trú tại: Ấp 5, xã Mỹ Quý Tây,

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; (vắng mặt)

8. Ông Trần Ngọc M – sinh năm 1996; cư trú tại: Thôn Bãi Giếng 2, xã

Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa; (vắng mặt)

9. Ông Tăng Hòa H – sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp Liên Đức, xã Xà Bang,

huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (vắng mặt)

10. Ông Nguyễn Văn V – sinh năm 1989; cư trú tại: 332/201/24A1, Dương

Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh; (vắng mặt)

11. Ông Lương Văn C– sinh năm 1992, cư trú tại: 6 Ô3/14, Khu phố Hải

Trung, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (vắng mặt)

12. Ông Nguyễn Hoài P – sinh năm 2001; cư trú tại: Thôn Cô Kiều, xã Tân

Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận; (vắng mặt)

13. Ông Huỳnh Văn L – sinh năm 2001; cư trú tại: Ấp 6 Biển, xã Nam Thái,

huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Mạnh T – sinh năm 1990; Cư trú tại: Khu phố Vạn Hạnh,

phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; (vắng mặt)

2. Bà Phan Thị H – sinh năm 1974; cư trú tại: Khu phố Trảng Cát, phường

Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (vắng mặt)

3. Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1977, cư trú tại: Ấp 6 Biển, xã Nam Thái,

huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang; (vắng mặt)

4. Ông Trần Huy D, sinh năm 1988; cư trú tại: Khu phố Vạn Hạnh, phường

Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (vắng mặt)

5. Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ VH;

Địa chỉ: 79, Phạm Văn Đồng, Khu phố Tân Hạnh , phường Phú Mỹ, thị xã

Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Phi – Giám đốc (vắng

mặt)

6. Công ty cổ phần L,

Địa chỉ: Đường số 4, Khu Công Nghiệp Phú Mỹ 1, Phường Phú Mỹ, Thị

Xã, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Khánh – Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc Nam – Nhân viên công ty (có

mặt)

7. Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ BA,

Địa chỉ: 372 Trần Hưng Đạo, Khu phố Vạn Hạnh, Phường Phú Mỹ, Thị xã

Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng Quân – Giám đốc; (vắng

mặt)

8. Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ YK

Địa chỉ: 108/1/1, số 10, Phường 9, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh;

Đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn Thư – Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh Liêm – Sinh năm 1985

(vắng mặt)

9. Công ty Cổ phần dịch vụ bảo vệ ĐL;

Địa chỉ: 113 Hoàng Hoa Thám, Phường Phú Mỹ, Thị xã Phú Mỹ, Tỉnh Bà

Rịa - Vũng Tàu

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn Bình – Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Phi Long – Giám đốc điều hành

(có mặt)

10. Ông Trịnh Minh Đ – sinh năm 1979; cư trú tại: Đường 3/2, tổ 4, khu

phố 4, phường Phước Hưng, TP Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (vắng mặt)

11. Ông Lê Đăng H – sinh năm 1964; cư trú tại: 106/32, Đô Lương, phường

11, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (có mặt)

12. Ông Nguyễn Văn N - sinh năm 1962; cư trú tại: xã Tây Đô, huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng/10/2020 đến tháng 01/2021, Võ Chí T (Tình Lác) nhiều lần thực

hiện hành vi trộm cắp xe mô tô các loại trên địa bàn thị xã Phú Mỹ. Phương thức, thủ đoạn của Tình là thực hiện hành vi vào đêm khuya vắng, đem theo công cụ phương tiện như kìm, cờ lê để cắt phá hàng rào hay phá khóa cổng các doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp của thị xã Phú Mỹ rồi đột nhập vào bãi xe, dùng công cụ tháo đấu nối dây điện xe nổ máy xe nhanh chóng đem xe đi bán hay cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Cụ thể như sau:

- Vụ 1: Khoảng 02 giờ ngày 24/10/2020, một mình Tình đi lang thang phát

hiện sân nhà bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955 ở khu phố Quảng Phú, phường Phú Mỹ có chiếc xe mô tô Honda SH 150i biển số 72E1-27915. Tình đột nhập vào nhà bà Mùi lục tìm lấy được chìa khóa xe và chìa khóa cổng rồi mở cổng lấy trộm chiếc xe chạy đến tiệm game bắn cá gần đó chơi. Tình khai một lúc sau có 2 người tên Đức Mập và Tí Anh (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại yêu cầu trả lại xe cho bị hại nên Tình đã mang xe trên đến để tại chùa Đại Tòng Lâm thuộc phường Phú Mỹ và điện thoại báo cho Đức Mập và Tí Anh biết. Đến ngày 28/10/2020, bà Mùi nhận được thông tin xe của bà đang ở địa chỉ trên nên đến lấy xe về.

- Vụ 2: Khoảng 02 giờ ngày 03/12/2020, một mình Tình đột nhập vào bãi

xe của Công ty Pomina 3 thuộc Khu Công nghiệp Phú Mỹ 1 lấy trộm chiếc xe mô tô Yamaha Exciter 150 biển số 5G1-174.91, trong cốp xe có Giấy chứng nhận đăng ký xe của anh Bùi Hữu N, sinh năm 1985, cư trú tại Nhơn Phú, Nhơn Nghĩa, Phong Điền, Cần Thơ. Sau đó, Tình khai nhờ một người tên Đạt (chưa rõ lai lịch) mang xe và giấy chứng nhận đăng ký xe đến tiệm cầm đồ Phú Gia ở khu phố Vạn Hạnh, phường Phú Mỹ do Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1990 làm chủ cầm cố được 6 triệu đồng.

- Vụ 3: Khoảng 02 giờ ngày 05/12/2020, Tình lại đột nhập vào bãi giữ xe

công ty Pomina 3 lấy trộm 01 xe mô tô Honda Winner biển số 67D1-558.71 của anh Huỳnh Tấn A, sinh năm 1989, cư trú tại Hưng Lợi, Đào Hữu Cảnh, Long Phú, An Giang rồi đem xe cất giấu tại bãi đất trống phía sau tiệm game bắn cá.

- Vụ 4: Ngay sau khi trộm cắp và cất giấu xe Vụ 3 xong, đến khoảng 04 giờ

cùng ngày 05/12/2020, Tình tiếp tục đột nhập vào trong bãi giữ xe công ty Pomina 3 lấy trộm 01 xe mô tô Yamaha Exciter biển số 60G1-130.45 của anh Nguyễn Công H, sinh năm 1994, cư trú tại ấp 3, xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai rồi đem xe cất giấu tại bãi đất trống (cùng Vụ 3).

Đến sáng cùng ngày, Tình bán 02 xe trộm được cho hai người cùng chơi

game bắn cá (chưa rõ lai lịch) được lần lược là 7 triệu đồng và 8 triệu đồng.

- Vụ 5: Rạng sáng ngày 14/12/2020, Tình nhờ người chơi chung game bắn

cá (không rõ lai lịch) chở đến công ty Cát Phú Tân Thành ở khu công nghiệp Mỹ Xuân B1 để làm việc. Đến nơi, thấy không có bảo vệ nên Tình dùng mỏ lết chuẩn bị từ trước bẻ khóa cổng sau rồi lấy trộm chiếc xe mô tô Yamaha Exciter 150 biển số 60C2-767.35 của anh Hồ Văn Út T, sinh năm 1995 cư trú tại ấp Phước Lương, xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đem cất giấu tại bãi đất trống sau tiệm game bắn cá.

- Vụ 6: Ngay sau khi trộm cắp và cất giấu xe Vụ 5 xong, Tình lại nhờ một

người khác trong tiệm game (không rõ lai lịch) chở về công ty Cát Phú Tân Thành rồi tiếp tục đột nhập vào và trộm cắp chiếc xe mô tô Yamaha Exciter 135, biển số 60B1-758.46 của anh Huỳnh Văn C, sinh năm 2000 cư trú tại thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Đến sáng cùng ngày 14/12/2020, Tình bán xe Yamaha Exciter 150 biển số

60C2-767.35 cho một người tên Cu Tiến (không rõ lai lịch) với giá 9 triệu đồng.

Còn chiếc xe Yamaha Exciter 135 biển số 60B1-758.46, Tình đem bán cho

một người (không rõ lai lịch) với giá 5 triệu đồng.

- Vụ 7: Khoảng 02 giờ ngày 21/12/2020, Tình nhờ Giang là người chơi game

chung (chưa rõ lai lịch) chở vào khu công nghiệp Phú Mỹ 2 để đi làm. Sau đó, Tình đột nhập vào bãi xe Công ty cổ phần L dùng cờ lê mang theo mở đấu nối dây điện xe mô tô Suzuki Satria biển số 72E1-692.89 của anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1976 cư trú tại ấp 5, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An rồi nổ máy xe chạy thoát. Trên đường đi, Tình tháo biển số xe vứt bỏ cùng với cờ lê rồi đến tiệm game bắn cá chơi. Do không có tiền trả nên Tình cầm cố chiếc xe cho Trần Huy D, sinh năm 1988 cư trú tại khu phố Mỹ Tân, phường Mỹ Xuân là chủ tiệm game với giá 4 triệu đồng. Sau đó, Tình đem xe đến tiệm cầm đồ Phú Gia của ông Nguyễn Mạnh T cầm cố được 6,5 triệu đồng rồi bán xe cho một người tên Hận (chưa rõ lai lịch) được 10 triệu đồng. Tình trả tiền cho Du, Tuấn, số còn lại tiêu xài hết.

- Vụ 8: Khoảng 02 giờ ngày 26/12/2020, Tình đột nhập vào bãi xe của công

ty Ba Son lấy trộm chiếc xe mô tô Suzuki FU150FM biển số 79Z1-468.29 của anh Trần Ngọc M, sinh năm 1996, cư trú tại thôn Bãi Giếng 2, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa rồi chạy đến tiệm game bắn cá tháo tem, thay biển số xe khác vào. Đến trưa cùng ngày, Tình đem xe đến tiệm cầm đồ Phú Gia của ông Mạnh Tuấn cầm cố được 8 triệu đồng tiêu xài cá nhân. Anh Mạnh Tuấn nghi ngờ xe Tình cầm cố là phạm pháp nên mang giao nộp Cơ quan điều tra.

- Vụ 9: Rạng sáng ngày 31/12/2020, Tình dùng kìm mang theo cắt lưới thép

B40 rồi đột nhập vào bãi xe Cảng SITV dùng cờ lê tháo đấu nối dây điện chiếc xe mô tô Suzuki Raider biển số 72G1- 453.78 của anh Tăng Hòa H, sinh năm 1988, cư trú tại ấp Liên Đức, xã Xà Bang, huyện Châu Đức rồi nổ máy xe chạy đến tiệm game bắn cá cầm cố cho Du (chủ quán) được 2 triệu đồng. Sau đó, Tình bán chiếc xe cho Bi (chưa rõ lai lịch) với số tiền là 8 triệu đồng, trả cho Du 2 triệu đồng và tiêu xài cá nhân hết.

- Vụ 10: Khoảng 04 giờ ngày 04/01/2021, Tình đột nhập vài bãi xe công ty

Vina Logictic Cảng Hưng Thái lấy trộm chiếc xe mô tô Yamaha Exciter biển số 76G1-225.98 của anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1989, cư trú tại 332/201/24A1 Dương Quảng Hàm, phường 5, Quận Gò Vấp, TPHCM. Sau đó, Tình đem xe giao cho Lê H (Em Trai), sinh năm 1984 cư trú; HKTT: Khu phố Phú Thạnh, phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ nhờ bán giúp.

Tuy không hứa hẹn trước, nhưng khi Tình đem xe nhờ bán giúp, Hoàng biết

rõ xe do Tình trộm cắp mà vẫn tiếp nhận, đem bán cho một đối tượng tên Hùng (chưa rõ lai lịch) ở Ngã Tư 46 thuộc phường Phú Mỹ với giá 5 triệu đồng rồi đưa toàn bộ số tiền này cho Tình.

- Vụ 11: Khoảng 02 giờ ngày 26/01/2021, Tình đột nhập vào bãi xe công

ty CNG dùng tay giật bửng chiếc xe mô tô Honda Winner biển số 72H1-177.16 của anh Lương Văn C Cẩm, sinh năm 1992, cư trú tại khu phố Hải Trung, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ đấu nối dây điện nổ máy chạy về cất giấu phía sau tiệm game bắn cá.

- Vụ 12: Ngay sau khi trộm và giấu xe ở Vụ 11, Tình đột nhập vào bãi giữ

xe của Công ty cổ phần thép Pomina 3 dùng cờ lê tháo đấu nối dây điện xe mô tô Suzuki Raider biển số 86B5-308.04 của anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 2001, cư trú tại thôn Cô Kiều, xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận rồi nổ máy chạy thoát qua cổng chính. Trên đường đi, Tình tháo biển số xe và vứt bỏ cùng với kềm và cờ lê. Sáng cùng ngày, Tình đã bán chiếc xe này cho người tên Mậu (chưa rõ lai lịch) với số tiền là 4 triệu đồng.

Còn chiếc xe trong Vụ 11, Tình khai khoảng 02 ngày sau, khi Công an kiểm

tra tiệm game bắn cá, Tình hoảng sợ nên bỏ chạy để lại xe. Sau đó, Tình quay lại tìm nhưng không thấy xe và không biết ai lấy.

- Vụ 13: Khoảng 02 giờ ngày 31/01/2021, Tình đột nhập vào bãi xe công

ty TNHH Moorim Vina dùng cờ lê tháo đấu nối dây điện chiếc xe mô tô Suzuki Raider biển số 68B1-510.62 của anh Huỳnh Văn L, sinh năm 2001, cư trú tại Ấp 6 Biển, xã Nam Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang rồi nổ máy chạy thoát qua cổng sau đến một bãi đất trống, tháo biển số xe và vứt bỏ cùng cờ lê. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Tình mang xe ra tiệm dán đề can chiếc xe thành màu xanh rồi lấy biển số 72E1-978.16 khác (không nhớ đặc điểm) gắn vào và làm phương tiện đi lại. Khi bắt Tình, Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe này.

* Định giá tài sản: Tại các Kết luận số 02/KL ngày 06/01/2021, số 04/KL

ngày 08/01/2021, số 09/KL ngày 25/01/2021, số 10/KL ngày 26/01/2021, số 34/KL ngày 15/3/2021 của Hội đồng định giá UBND thị xã Phú Mỹ xác định giá trị còn lại của các chiếc xe mô tô bị cáo Tình trộm cắp như sau:

- Xe Suzuki FU150FM biển số 79Z1-468.29 là 41,5 triệu đồng.

- Xe Yamaha Exciter 135 biển số 60B1-758.46 là 16,15 triệu đồng.

- Xe Yamaha Exciter 150 biển số 60C2-767.35 là 39,2 triệu đồng.

- Xe Yamaha Exciter 150 biển số 65G1-174.91 là 26,775 triệu đồng.

- Xe Honda Winner biển số 67D1-558.71 là 27,26 triệu đồng

- Xe Yamaha Exciter biển số 60G1-130.45 là 38 triệu đồng.

- Xe Honda SH 150i biển số 72E1-279.15 là 43 triệu đồng.

- Xe Suzuki Satria biển số 72E1-692.89 là 43,4 triệu đồng.

- Xe Suzuki Raider biển số 72G1- 453.78 là 32 triệu đồng.

- Xe Suzuki Raider biển số 86B5-308.04 là 37,2 triệu đồng;

- Xe Yamaha Exciter biển số 76G1-225.98 là 24,75 triệu đồng.

- Xe Honda Winner biển số 72H1-177.16 là 27,25 triệu đồng.

- Xe Suzuki Raider biển số 68B1-510.62 là 48.6 triệu đồng.

Tổng giá trị tài sản do Tình trộm cắp là 445.085.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 150/CT-VKS ngày 13/9/2021 của Viện kiểm sát nhân

dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Võ Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên Cáo trạng đã

truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Lê H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đề nghị áp dụng theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s

khoản 1 Điều 51, điểm b, g Điều 52, Điều 38, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tình từ 13 (mười ba) năm đến 15 (mười lăm) năm tù;

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều

38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù; Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với Bản án Hình sự sơ thẩm số 42/2021/HS – ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, đã xử phạt bị cáo Hoàng 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 2 biển số xe: 60G1-130.45 và 72E1-

978.16.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tình phải bồi thường thiệt hại cho

các bị hại theo quy định pháp luật.

- Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến gì về tội danh cũng như khung hình phạt.

- Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo Tình: Xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Hoàng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

tại phiên tòa: Các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai và có đơn yêu cầu bồi thường vì vậy sự vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng tới việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi phạm tội: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo với lời khai của

người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản chỉ dẫn hiện trường, biên bản đối chất, là hoàn toàn phù hợp, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Từ ngày 24/10/2020 đến tháng 01/2021, Võ Chí T đã có hành vi lén lút thực

thực hiện 13 vụ trộm cắp xe mô tô các loại trong các Khu Công nghiệp trên địa bàn thị xã Phú Mỹ và xe của nhà dân. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 445.085.000 đồng.

Đối với Lê H tuy không hứa hẹn trước nhưng khi biết rõ số tài sản là do Võ

Chí T là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn có hành vi tiêu thụ số tài sản, có giá trị 24.750.000 (hai mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), không thu lợi.

Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Võ Chí T đã phạm

vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lê H đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo:

Nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực

tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân. Ngoài ra còn tác động xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương.

Trong đó bị cáo Tình là thanh niên, có sức khỏe và đủ năng lực nhận thức

và điều khiển hành vi của mình nên biết rất rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật nên thay vì tìm kiếm việc làm để có thu nhập nuôi sống bản thân, mà thực hiện nhiều vụ trộm cắp trên địa bàn thị xã Phú Mỹ. Đối với bị cáo Hoàng có nhân thân xấu, tuy biết tài sản là do phạm tội mà có nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do đó cũng cần có mức án phù hợp để giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình, làm con người có ích cho xã hội.

Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc,

tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Tình trong khoảng thời gian ngắn đã thực hiện liên tục 13 vụ trộm

cắp tài sản trên địa bàn thị xã Phú Mỹ (cụ thể là 13 chiếc xe mô tô), với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 445.085.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 70.000.000 đồng, số tiền này bị cáo phục vụ cho việc chi tiêu cá nhân hàng ngày, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm b, g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo Hoàng: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại

phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên thuộc trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với anh Trần Ngọc M, bà Nguyễn Thị M, anh Huỳnh Văn L đã nhận

lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

- Đối với bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn lại do chưa

thu hồi được tài sản nên đã có yêu cầu bị cáo Tình phải bồi thường. Cụ thể như sau:

Anh Tăng Hòa H yêu cầu bị cáo Tình phải bồi thường số tiền 40.000.000

đồng; Anh Huỳnh Văn C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.150.000 đồng;

Do anh Lương Văn C đã được ông Trịnh Minh Đ và ông Lê Đăng H bồi

thường số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu). Ông Đức, ông Huyền, mỗi người yêu cầu bị cáo Tình phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu), anh Cẩm yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 7.250.000 đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn).

- Anh Nguyễn Văn D đã được Công ty cổ phần L bồi thường số tiền

20.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn N bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bồi thường ông Dũng không có yêu cầu gì thêm. Tại phiên tòa, Công ty cổ phần L yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, ông Nhự yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.

- Anh Nguyễn Văn V đã được Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ BA bồi

thường 20.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền bồi thường, anh Việt không yêu cầu gì thêm. Tại phiên toà, Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ BA yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng.

- Anh Nguyễn Hoài P đã được Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Việt Nhật

YUKI SEPRE 24 bồi thường số tiền 45 triệu đồng. Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Việt Nhật YUKI SEPRE 24 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 37.200.000 đồng.

- Anh Bùi Hữu N, anh Nguyễn Công Hoè và anh Phan Tấn An đã được

Công ty Cổ phần dịch vụ bảo vệ ĐL bồi thường tổng số tiền 80.000.000 đồng. Công ty Cổ phần dịch vụ bảo vệ ĐL yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 80.000.000 đồng.

- Anh Hồ Văn Út T đã được Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ VH đã bồi

thường số tiền 40.000.000 đồng. Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ VH có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 39.200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Tình không có ý kiến về mức bồi thường do bị hại và

người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa ra và đồng ý bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo yêu cầu bồi thường nên được Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đúng như yêu cầu như trên, với tổng số tiền phải bồi thường là 299.800.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 2 biển số xe: 60G1-130.45 và

72E1-978.16.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Võ Chí T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a

Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê H đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

2. Căn cứ vào điểm a Khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1

Điều 51, điểm b, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Võ Chí T 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù

tính từ ngày 03/02/2021.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51,

điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lê H 01 (một) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt theo Bản án Hình

sự sơ thẩm số 42/2021/HS – ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, đã xử phạt bị cáo Hoàng 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt chung của cả hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba)

năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/6/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho bị hại và

người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau:

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho anh Tăng Hòa H số tiền 40.000.000

đồng (bốn mươi triệu);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho ông Trịnh Minh Đ số tiền 10.000.000

đồng (mười triệu), ông Lê Đăng H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu) và Lương Văn C số tiền 7.250.000 đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho anh Huỳnh Văn C số tiền 16.150.000

đồng (mười sáu triệu một trăm năm mươi nghìn);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu)

cho Công ty cổ phần L và bồi thường cho anh Nguyễn Văn N số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ BA số

tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Việt

Nhật YUKI SEPRE 24 số tiền 37.200.000 đồng (ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho Công ty Cổ phần dịch vụ bảo vệ ĐL số

tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu);

Buộc Võ Chí T phải bồi thường cho Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ VH số

tiền 39.200.000 đồng (ba mươi chín triệu hai trăm nghìn);

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng

người phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 2 biển số xe: 60G1-130.45 và 72E1-

978.16.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 116/BB – CCTHDS ngày 13/9/2021

của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ)

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Võ Chí T và Lê H, mỗi bị cáo, phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Buộc Võ Chí T phải nộp án phí dân sự số tiền 14.990.000 đồng (mười bốn

triệu chín trăm chín mười nghìn).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng

người phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

6. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền

kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người vắng mặt tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ