vanban.org

Bản án 64/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Quang K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1,2 Điều 65 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Phạm Quang K 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Quang K phạm tội Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quang K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS-ST
Ngày 10/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Diệu

2. Ông Phạm Ngọc Túy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Quang K, sinh ngày 02/5/1965 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Quy N, sinh năm 1939 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1940; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Tháng 3/1983, tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 5/1988 xuất ngũ về địa phương lao động tự do.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/5/2022 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1964

- Anh Ngô Doãn V, sinh năm 1981

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1953

Đều trú tại: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

(Ông C, anh V, ông L đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2017, khi làm thợ xây tại tỉnh Quảng Ninh, Phạm Quang K đã mua của một người không quen biết tại khu vực chợ KaLong, thành phố Móng Cái 01 hộp pháo hoa nổ, màu đỏ-trắng, bên trong có 49 ống hình trụ tròn do Trung Quốc sản xuất với giá khoảng 150.000 đồng rồi mang về nhà cất giấu trong bếp để khi có cơ hội thì đốt. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 19/4/2022, sau khi đi uống rượu về, Khánh nảy sinh ý định mang hộp pháo trên ra đốt ở khu vực đường ĐH75 xã Q nên lấy hộp pháo ra, bóc lớp nilon bao quanh thành bệ pháo rồi mang theo 01 bật lửa gas màu trắng, nắp bạc của gia đình đi ra khu vực đường ĐH75 đặt hộp pháo xuống mé đường gần chân cột biển báo giao thông, cách tường bao nhà bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960, ở cùng thôn 1,5 mét, cách nhà Khánh khoảng 50 mét. Thấy xung quanh vắng người, Khánh dùng bật lửa gas bật lửa lên đốt vào ngòi hộp pháo khiến ngòi pháo cháy, phát ra tiếng “xìì”. Thấy vậy, Khánh bước đi vài bước thì hộp pháo phát ra nhiều tiếng nổ kèm theo nhiều tia sáng với nhiều màu sắc bay lên bầu trời. Nghe thấy nhiều tiếng nổ, một số người trong xóm nháo nhác chạy ra đường xem. Hộp pháo hoa cháy, nổ trong khoảng 1 phút thì tắt.

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, truy tìm, quản lý, niêm phong 01 khối hình hộp bằng giấy bìa cát tông, kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài thân hộp có dán mác (dạng ngoại ngữ) có ký hiệu A8411, có dòng mã vạch 8319568184117, bên trong lòng khối hình hộp có 49 ống hình trụ bằng bìa cát tông, khối hình trụ dạng ống có đường kính 2cm; 55 mảnh bìa cát tông hình tròn có đường kính 02cm, ở tâm mỗi hình tròn có một lỗ thủng; quản lý của Phạm Quang K 01 chiếc bật lửa ga màu trắng, nắp bạc.

Bản Kết luận giám định số 2542/KL-KTHS ngày 18/5/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

“Các mẫu vật gửi giám định đều là các mảnh vỏ và các ống của pháo nổ (pháo hoa nổ) đã qua sử dụng, khối lượng pháo trước khi nổ khoảng là 1,5kg (một phảy năm kilôgam).

Căn cứ theo Nghị định 137/2020/NĐ-CP, ngày 27 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 11 tháng 01 năm 2021 về quản lý, sử dụng pháo thì pháo nổ (pháo hoa nổ) thuộc danh mục cấm kinh doanh và sử dụng”.

Cáo trạng số 63/CT-VKSQP ngày 01/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Phạm Quang K về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phạm Quang K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng và phù hợp với lời khai của người làm chứng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Quang K và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1,2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Quỳnh Phụ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS. Ngoài ra, còn phát biểu về xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Trong phần tranh luận bị cáo Phạm Quang K không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Quang K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lục số 13 - 15; 86 - 101); phù hợp với Sơ đồ và biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc do Công an xã Q, huyện Quỳnh Phụ lập hồi 21 giờ ngày 19/4/2022 tại đường ĐH75, thuộc thôn H, xã Q, huyện Quỳnh Phụ; Sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình lập ngày 20/4/2022 (bút lục số 04 - 06, 23a,b); Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu hồi 21 giờ 40 phút ngày 19/4/2022 và 14 giờ 50 phút ngày 20/4/2022 (bút lục số 07 - 08); Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Hữu C (bút lục số 102 - 103); anh Ngô Doãn V (bút lục 104 - 105); ông Nguyễn Văn L (bút lục 18 - 19), cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 19/4/2022, tại đường ĐH75 thuộc địa phận thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Quang K đã có hành vi đốt 01 hộp pháo hoa nổ do Trung Quốc sản xuất, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nơi đông dân cư. Hành vi của bị cáo Phạm Quang K đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 318 Bộ luật Hình sự: Tội gây rối trật tự công cộng

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

d) Xúi giục người khác gây rối;

đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi đốt pháo ở khu vực đường ĐH75 xã Q vào tối ngày 19/4/2022 của bị cáo Phạm Quang K đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đốt pháo trái phép tại nơi công cộng là vi phạm pháp luật song vẫn cố tình thực hiện. Do vậy hành vi của bị cáo đáng bị lên án.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu phạm tội, quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về xử lý vật chứng: 01 khối hình hộp bằng giấy bìa cát tông, kích thước (17x17x10)cm, bên trong lòng khối hình hộp có 49 ống hình trụ bằng bìa cát tông; 55 mảnh bìa cát tông hình tròn có đường kính 02cm, ở tâm mỗi hình tròn có một lỗ thủng; 01 bật lửa gas màu trắng, nắp bạc cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc hộp pháo, Phạm Quang K khai mua của một người không quen biết, không rõ nơi bán hàng tại chợ KaLong, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Phạm Quang K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Quang K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1,2 Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Phạm Quang K 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Quỳnh Phụ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 01 khối hình hộp bằng giấy bìa cát tông, kích thước (17x17x10)cm, bên trong lòng khối hình hộp có 49 ống hình trụ bằng bìa cát tông; 55 mảnh bìa cát tông hình tròn có đường kính 02cm, ở tâm mỗi hình tròn có một lỗ thủng; 01 bật lửa gas màu trắng, nắp bạc.

(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 62 ngày 01/7/2022 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Quang K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/8/2022);

Cỡ chữ