- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Văn Thị S – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HS-PT Ngày: 26/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H1 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễ n Việ t Hù ng và bà Đậ u Thị Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn H do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2022/HS-ST ngày 09/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn H, sinh năm 1973; Tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Con ông Nguyễn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị C (chết); Có vợ Văn Thị S, sinh năm 1976 và 06 con, lớ n nhấ t sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
- Người bị hại có kháng cáo: Văn Thị S, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Ông Nguyễn Tấn D, sinh năm 1971. Nơi cư trú: 69/59 NM, tổ 46, khu vực 8, phường C, thành phố QH, tỉnh Bình Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như S:
Ngày 06/5/2021, Văn Thị S nói với Nguyễn H(chồng S) đi xin việc làm. H nghi ngờ vợ nói dối nên theo dõ i và phát hiện S đi chơi và hát KaraOke với người khác, nên ghen tuông về nhà lấy quần áo của S ra đốt. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, S về nhà thấy H đốt quần áo của mình nên xảy ra cãi nhau. S gọi điện cho Lê Thị H1(bạn S) đến can ngăn. Khi H1 đến, H chửi mắng S và H1 lý do H1 rủ rê S đi chơi, thấy S đang ngồi trước cổng nhà, H chạy từ trong sân ra đến vị trí S đang ngồi dùng chân đạp trúng vào vùng hông trái của S làm S ngã ngửa, H chạy vào trong sân nhà cầm một cái thùng nhựa cứng (loại thùng đựng sơn) đã qua sử dụng cân nặng 0,8kg, chiều cao 37,5cm, đường kính miệng thùng 30cm, đường kính đáy thùng 26,7cm để đánh S. Lúc này, S đang nghiêng người qua bên phải để ngồi dậy thì H cầm vành miệng thùng nhựa trên tay trái vung lên đánh từ trên xuống dưới, cạnh đáy thùng nhựa trúng vào vùng thắt lưng của S, bị đau nên S dùng tay phải đặt lên vùng hông, lòng bàn tay úp vào vùng hông bên phải thì H tiếp tục dùng thùng nhựa đánh cái thứ hai cạnh đáy thùng nhựa trúng vào mặt S cẳng tay phải làm gãy 1/3 trên xương trụ tay phải của S gây thương tích, tỷ lệ 10%.
Ngày 23/09/2021, Văn Thị S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, yêu cầu xử lý hành vi cố ý gây thương tích đối với Nguyễn H.
Đối với số quần áo mà Nguyễn H đã đốt, cả H và bà Văn Thị S đều khai nhận: đa số quần áo bị đốt là quần áo cũ, không còn giá trị; số rất ít là quần áo mới nhưng mua trong quá trình vợ chồng chung sống. Bà S không có yêu cầu xử lý Nguyễn H về hành vi này nên cơ quan CSĐT không xem xét xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2022/HS-ST ngày 09/5/2022 của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s, Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Phạt: Bị cáo Nguyễn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn H cho Ủy ban nhân dân xã XT, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/5/2022, bị hại Văn Thị S kháng cáo toàn bộ bản án, yêu cầ u cấ p phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng không cho bị cáo hưởng án treo và tăng tiề n bồ i thườ ng dân sự .
Tại phiên tòa, bị hại Văn Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Hthừa nhận thương tí ch củ a bị hạ i do bị cá o gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong phần đối đáp; Bị hại, đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a bị hạ i giữ
nguyên yêu cầ u khá ng cá o ; Bị cáo Nguyễn H thấy có tội xin pháp luật khoan hồ ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/5/2021, tại thôn P, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nguyễn H phát hiện vợ là Văn Thị S đi chơi và hát Karaoke với người khác, nhưng nó i dố i là đi xin việ c là m ; H ghen tuông về nhà lấy quần áo của S ra đốt, nên xả y ra cã i vã ; H dùng chân đạp vào hông, dùng thùng nhự a đựng sơn đã qua sử dụng cân nặng 0,8kg, chiều cao 37,5cm, đường kính miệng thùng 30cm, đường kính đáy thùng 26,7cm đá nh và o lưng, tay phải của S gây thương tích, tỷ lệ 10%. Mặ c dù , thương tích của người bị hại dưới 11% nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a, Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị hại Văn Thị S. Hội đồng xét xử, thấy:
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại trái pháp luật, mà còn gây mất trật tự trị an – an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử phạt thỏa đáng. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án; xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đồng thời áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ, đả m bả o răn đe , giáo dục và phòng ngừa tội phạm . Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầ u khá ng cá o củ a bị hại theo hướ ng không cho bị cá o hưởng án treo là có cơ sở chấp nhận.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại Bản kê khai chi phí điều trị thương tí ch, bị hại Văn Thị S yêu cầ u bị cá o Nguyễn H phải bồi thường số tiền 174.674.000 đồ ng; Trong đó , bị hại đã nhận từ bị cáo bồi thường các khoản có hóa đơn, chứ ng từ , gồ m: Chi phí điều trị tại Bệnh viện và đi lại khi nhập việ n và xuấ t việ n: 21.000.000 đồ ng; các khoản chi phí theo quy định tại Điều 590 Bộ luậ t Dân sự : 54.000.000 đồ ng; Tổ ng cộ ng 75.000.000 đồ ng. Còn các khoản chi phí khác theo nội dung Bản kê khai chi phí , cũng như khoản chưa chi p hí phẫ u thuậ t lạ i nế u có theo chỉ đị nh củ a Bá c sỹ , chưa có hó a đơn, chứ ng từ ; Nên bị hạ i đã tự nguyệ n không yêu cầ u giả i quyế t phầ n bồ i thườ ng dân sự trong cù ng vụ á n hình sự nữa , mà sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đầy đủ tài liệu , chứ ng từ và Bản án sơ thẩm đã ghi nhậ n và dành cho bị hại được quyền khởi kiệ n bằ ng vụ kiệ n dân sự khá c khi có yêu cầ u là phù hợ p.
Tại phiên tòa phúc thẩm , bị hại lại cung cấp một số c hứ ng từ phá t sinh S khi xé t xử sơ thẩ m; các khoản chi phí mới phát sinh này chưa được cấp sơ thẩm xem xé t giả i quyế t , nế u cấ p phú c thẩ m giả i quyế t ngay sẽ gây ả nh hưở ng nghiêm trọ ng đế n quyề n và lợ i í ch hợ p phá p củ a bê n phả i bồ i thườ ng . Do đó , Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầ u kháng cáo của bị hại đòi tăng tiề n bồi thường dân sự là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn H và bị hại Văn Thị S có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Văn Thị S – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
1. Về Hì nh phạ t : Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Nguyễn H– 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn H cho Ủy ban nhân dân xã XT, thị xã S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Dành cho bị hại Văn Thị S đượ c quyề n khở i kiệ n bằ ng vụ kiệ n dân sự khá c , đố i vớ i cá c khoả n chi phí điều trị thương tí ch do bị cá o Nguyễn H gây ra, mà cấp sơ thẩm chưa xem xét khi bị hại có yêu cầu.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn H và bị hại Văn Thị S không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày H thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao Đà Nẵng (1); - VKSND cấp cao Đà Nẵng (1); - TAND thị xã S (2); - VKSND tỉnh Phú Yên (2); - VKSND thị xã S (1); - Công an thị xã S (1); - Sở tư pháp (1); - PV 06 (1); - NTGTT (3); - PKTNV (1); - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |