- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Xuân S phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 67/2022/HS-ST ngày 08-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa về hình phạt; sửa bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HS-PT Ngày 15 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Chiến
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Lê Quốc Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2022/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo: Hà Xuân S do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2022/HS-ST ngày 08-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
Bị cáo bị kháng nghị: Hà Xuân S, sinh năm 2002 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Xuân D và bà Lê Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-5-2022 đến ngày 20-7-2022, tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ từ trước, nên sáng ngày 22-5-2022 ông Hồ Khắc P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48B1-540.46 đến Phòng 107 nhà nghỉ PD thuộc Tổ 10, phường N, thành phố G, gặp Hà Xuân S để nói chuyện.
Quá trình nói chuyện ông P lấy tiền cho S mua thuốc lá thì S phát hiện Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 chùm chìa khóa xe nên S nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của ông P; S đã lén lấy trộm Giấy chứng nhận đăng ký xe, cho vào túi quần. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi quay lại phòng, S tiếp tục nói chuyện với ông P để đánh lạc hướng, tránh sự chú ý của ông P và S đã lấy trộm chìa khóa cho vào túi quần cất giấu.
Sau đó S xuống nhà xe và lấy trộm chiếc xe điều khiển theo Quốc lộ 14 hướng về Tp. Hồ Chí Minh. Khi đến khu vực xã N, huyện Đ, S đã cầm cố chiếc xe trên cho anh Đặng Kim T được số tiền 12.000.000 đồng. Khi cầm cố, S lấy tên Lê Nguyễn Quốc D, anh T viết biên nhận cầm đồ và đưa cho S giữ. Sau khi cầm cố được số tiền 12.000.000 đồng, S đã sử dụng vào mục đích cá nhân.
Bản kết luận định giá tài sản số: 35/Kl-HĐĐG ngày 26-5-2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố G, kết luận: Tại thời điểm ngày 22-5-2022, xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Air Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 48B1-540.46 trị giá 24.750.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2022/HS-ST ngày 08-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hà Xuân S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điề u 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Xuân S 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 07-10-2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông kháng nghị về phần hình phạt đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Hà Xuân S.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Xuân S thừa nhận Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sửa bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt, cụ thể không áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Hà Xuân S 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2022/HS-ST ngày 08-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã kết án bị cáo Hà Xuân S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Sau khi phạm tội bị cáo Hà Xuân S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tài sản chiếm đoạt trị giá 24.750.000 đồng đã được trả lại cho bị hại. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm bỏ sót tình tiết bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 12.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và phù hợp với Nghị quyết số: 02/2018/NQHĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên cần sửa bản án sơ thẩm để áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 67/2022/HS-ST ngày 08-9-2022 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa về hình phạt; sửa bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điề u 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Xuân S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.
Giao bị cáo Hà Xuân S cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông; - TAND thành phố Gia Nghĩa; - VKSND thành phố Gia Nghĩa; - Chi cục THADS thành phố G; - CQCSĐT Công an Tp. Gia Nghĩa; - CQTHAHS Công an Tp. G; - UBND thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; - Lưu: Tổ HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Xuân Chiến |