- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "P- D"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2022 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương Diệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Bá Quyền;
Ông Trần Văn Quang.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 62/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Lê Thanh P, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: bà Trần Thị Huyền D, sinh năm 1997; thường trú: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: khu phố 1, phường H, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27-12-2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Thanh P trình bày: Ông Lê Thanh P và bà Trần Thị Huyền D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, 2 huyện Hàm Thuận Bắc vào ngày 22-5-2018. Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà D không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm, chăm sóc con. Khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng ông P đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Ông P và bà D đã sống ly thân. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà D.
Về con chung: ông P và bà D có 01 con chung tên Lê Trần Tuấn K, sinh ngày 25-10-2018. Khi ly hôn ông P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Trần Tuấn K, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Huyền D trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của ông P về thời gian kết hôn, thời gian xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà D sống hạnh phúc được 06 tháng, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông P không chăm sóc con, không tôn trọng cha mẹ bà D và có hành vi xúc phạm danh dự, đánh đập, đuổi bà D ra khỏi nhà. Ngoài ra, ông P còn cầm cố tài sản trong gia đình mà không được sự đồng ý của bà D. Vợ chồng bà D đã có nhiều biện pháp để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Bà D và ông P không còn chung sống và quan tâm, chăm sóc nhau. Bà D không còn tình cảm với ông P nên trước yêu cầu của ông P, bà D đồng ý ly hôn.
Về con chung: bà D thống nhất với ông P về con chung. Cháu Lê Trần Tuấn K, sinh ngày 25-10-2018 hiện đang sống cùng với ông P. Khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Về tố tụng: quá trình Tòa án giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị đơn bà Trần Thị Huyền D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Trần Thị Huyền D.
Ông Lê Thanh P và bà Trần Thị Huyền D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận vào ngày 22-5-2018, là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: ông P và bà D đều thừa nhận trong thời gian chung sống giữa ông P và bà D phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo lời trình bày của ông P, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà D không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm, chăm sóc con. Theo lời trình bày của bà D, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông P không chăm sóc con, không tôn trọng cha mẹ vợ, có hành vi xúc phạm danh dự, đánh đập, đuổi bà D ra khỏi nhà, ông P còn cầm cố tài sản trong gia đình mà không được sự đồng ý của bà D. Tuy ông P và bà D không thống nhất về nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông P và bà D đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng giữa ông P và bà D là trầm trọng và đã sống ly thân. Ông P yêu cầu ly hôn, bà D đồng ý. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông P và bà D là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Phúc yêu cầu được ly hôn với bà D là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: ông P và bà D thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Lê Trần Tuấn K, sinh ngày 25-10-2018, hiện cháu K đang sống cùng ông P. Ông P và bà D đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, ông P hiện đang nuôi con chung, đảm bảo điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử giao con chung Lê Trần Tuấn K, sinh ngày 25-10-2018 cho ông P nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: ông P không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh P như sau:
- Về hôn nhân: ông Lê Thanh P được ly hôn với bà Trần Thị Huyền D.
- Về con chung: giao con chung tên Lê Trần Tuấn K, sinh ngày 25/10/2018 cho ông Lê Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bà Trần Thị Huyền D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Lê Thanh P phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005789 ngày 22-12-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Chi cục THA dân sự thị xã Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Hương Diệp |