- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà L và ông T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Thùy L và ông Võ Trung T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15/9/2022 V/v: “Ly hôn giữa bà L và ông T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R G, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xéTuyên xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Tấn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Hoàng.
2. Bà Chung Kim Sang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố R G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R G tham gia phiên tòa: thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố R G xéTuyên xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 249/2022/TLST-HNGĐ ngày 08/7/2022, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xéTuyên xử số: 67/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy L, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: Ấp V N, xã T T, huyện P T, tỉnh An Giang. (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Võ Trung T, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú: Số 67/5 T Q T, phường V T, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 28/4/2022 và trong quá trình xéTuyên xử nguyên đơn bà Lê Thị Thùy L trình bày: Bà L và ông T được người thân mai mối, đi đến tổ chức lễ cưới và chung sống vợ chồng vào năm 2006, có đăng ký kết hôn trể hạn và được UBND phường V T Vân, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/5/2009.
Lý do bà L yêu cầu xin ly hôn: Bà L cho rằng do quá trình chung sống tính tình không hợp, bất đồng ý kiến trong cách cư xử, sinh hoạt thường ngày và về vấn đề kinh tế gia đình; vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thiếu quan tâm chăm sóc, thông cảm cho nhau. Cả hai đã nhiều lần tự hòa giải để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, sự cố gắng đó không mang lại kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Thấy chung sống không hạnh phúc nên đôi bên đã tự ly thân với nhau từ năm 2010 cho đến nay, cả hai đã có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà L xác nhận có 01 người con chung tên Võ Thị Thúy V, sinh ngày 08/9/2009. Hiện đang sống cùng bà L.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà L yêu cầu:
Về hôn nhân: Bà L yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án có triệu tập ông Võ Trung T để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng ông T vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xéTuyên xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xéTuyên xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như tống đạt: Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án xéTuyên xử, Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy báo phiên toà hợp lệ nhưng ông T lánh mặt không đến Toà án. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xéTuyên xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xéTuyên xử thống nhấTuyên xử vắng mặt bị đơn ông Võ Trung T.
Nhận định về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa bà L xác nhận, bà L và ông T được người thân mai mối, đi đến tổ chức lễ cưới và chung sống vợ chồng vào năm 2006, có đăng ký kết hôn trể hạn và được UBND phường V T Vân, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/5/2009. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà L, Hội đồng xéTuyên xử xét thấy: Vợ chồng bà L, ông T không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng mái ấm gia đình bền vững và hạnh phúc; xuất phát từ việc tính tình đôi bên không hòa hợp, bất đồng quan điểm, bất đồng ý kiến; vợ chồng không còn tin tưởng, thông cảm, quan tâm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục để hòa giải hôn nhân và gia đình nhưng ông T cố tình lánh mặt không đến Tòa án, điều đó cho thấy ông T cũng không mong muốn hàn gắn lại tình cảm với bà L. Đôi bên cũng đã ly thân với nhau từ năm 2010 cho đến nay, cả hai đều đã có cuộc sống riêng và không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xéTuyên xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông T đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong phần nghị án Hội đồng xéTuyên xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà L xác nhận có có 01 người con chung tên Võ Thị Thúy V, sinh ngày 08/9/2009. Tại bản trình bày nguyện vọng người con tên Võ Thị Thúy V thể hiện nguyện vọng muốn được sống với mẹ là bà L.
Xét thấy, quá trình trông nom, nuôi dưỡng con chung, bà L đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người mẹ đối với con; đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của con. Vì vậy, để đảm bảo môi trường sống, sự phát triển, quyền lợi mọi mặt của con, cũng như tôn trọng nguyện vọng của người con chung. Trong phần nghị án Hội đồng xéTuyên xử thống nhất: Giao người con chung tên Võ Thị Thúy V, sinh ngày 08/9/2009 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Do bà L không có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xéTuyên xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xéTuyên xử không xem xét.
Do suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông T vắng mặt, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Trường hợp, ông T có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Thùy L và ông Võ Trung T.
2. Về con chung: Giao người con chung tên Võ Thị Thúy V, sinh ngày 08/9/2009 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, Hội đồng xéTuyên xử không xem xét. Trường hợp, ông T có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm ly hôn: Bà L phải nộp 300.000 đồng. Bà L đã tạm nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000046, ngày 22/6/2022 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R G, nên bà L được khấu trừ.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án. Bị đơn ông T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. R G; - THA DS TP. R G; - Cơ quan nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tấn Nghĩa |