- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị L và anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn anh Đặng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HNGĐ-ST Ngày 30-11-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khúc Thị Minh
Bà Đặng Thị Đôi
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 30/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2022/TLST-HNGĐ, ngày 04/10 /2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24/11/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1998. Địa chỉ cư trú: Thôn H1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1998. Địa chỉ cư trú: Thôn K2, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt lần thứ hai, đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 19/8/2022, bản tự khai ngày 04/10/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện kết hôn với anh Đặng Văn T, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 10/4/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm, mâu thuẫn bắt đầu phát sinh từ tháng 5/2021 do phong cách sống không còn phù hợp, anh T thường xuyên đi uống rượu với bạn qua đêm, không quan tâm đến kinh tế gia đình, khi say rượu còn mắng, đánh vợ con. Dẫn đến chị phải mang theo con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở 05 lần. Hai bên gia đình, thôn xóm hòa giải nhiều lần để vợ chồng trở lại sống đoàn tụ nhưng không thành do anh T không thay đổi. Chị sống ly thân anh T từ tháng 9/2021 đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn anh T.
Về con chung: Anh chị có 01 con Đặng Ngọc A, sinh ngày 10/02/2020, hiện do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị nhận tiếp tục nuôi cháu Anh đến khi con đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, anh chị sẽ thỏa thuận tự giao nhận với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh T không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, theo lời trình bày và yêu cầu của chị L; Tòa án tiến hành xác minh, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh T nhưng anh T không đến Tòa án để trình bày lời khai; không tham gia hòa giải; từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do. Sau đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Phạm Thị T1 mẹ đẻ anh T nhận để giao lại cho anh T, anh T đều đã nhận đầy đủ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng là không thực hiện quyền, không chấp hành nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại các khoản 15, 16 Điều 70; Điều 72 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, đã được triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L, cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Đặng Văn T.
Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc A, sinh ngày 10/02/2020 cho chị L nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, không yêu cầu giải quyết, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đối với anh T.
Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ: Chị L không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị L có đơn xin ly hôn, nhận nuôi con chung sau khi ly hôn đối với anh T là bị đơn có nơi cư trú tại thôn K2, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đây là loại vụ án về Hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T vắng mặt tại phiên tòa, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện chị L, anh T kết hôn do tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, K ngày 10/4/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm. Mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh từ tháng 5/2021 do phong cách sống không còn phù hợp, anh T thường xuyên đi uống rượu với bạn qua đêm, không có trách nhiệm về kinh tế đối với vợ, con. Anh T thường xuyên mắng, đánh vợ con khi say rượu. Chị L nhiều lần phải mang theo con bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở, lần gần đây nhất vào tháng 9/2021. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân, anh T không thăm hỏi, không có trách nhiệm gì về kinh tế đối với vợ, con. Gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng về chung sống đoàn tụ nhưng không thành. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị L có căn cứ, cần được chấp nhận, nên xử cho chị L được ly hôn anh T là phù hợp theo quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 con là Đặng Ngọc A, sinh ngày 10/02/2020. Xét nguyện vọng của chị L xin tiếp tục nuôi con đến khi con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của đương sự, xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H và đại diện gia đình anh T thể hiện chị L có chỗ ở, việc làm ổn định, thu nhập kinh tế mỗi tháng từ 8.000.000 đồng, đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu Ngọc A. Khi anh chị sống ly thân, cháu Anh được chị L nuôi dưỡng đảm bảo, đầy đủ điều kiện cho cháu ăn học, sinh hoạt, sức khỏe tốt. Cháu Anh dưới 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ. Do đó, cần giao cháu Anh cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị L trình bày do anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đối với anh T.
Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn anh Đặng Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc A, sinh ngày 10/02/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị L không yêu cầu giải quyết nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đối với anh T.
Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công nợ: Chị L không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu ký hiệu AA/2021, số 0001757 ngày 04/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị L đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K, HP; - Chi cục THADS huyện K, HP; - UBND xã H, huyện K, HP; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |