vanban.org

Bản án 64/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Quách Văn H. Xử cho anh H được ly hôn chị Bùi Thị H1.

Về con chung: Vợ chồng anh chị không có con chung, nên không giải quyết. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hòa yêu cầu ly hon với người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Quách Văn H. Xử cho anh H được ly hôn chị Bùi Thị H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64 /2022/ HNGĐ-ST
Ngày: 29- 7 -2022
V/v “ Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và ông Hoàng Văn Hiệu

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Sỹ Vĩ- Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn: Bà Nguyễn Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 149/2022/HNGĐ - ST ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc “ Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022và quyết định hoãn phiên tòa số 36/2022 ngày 13 tháng 7 năm 2022 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Quách Văn H, sinh năm 1990 Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

- Bị đơn: Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1989 Nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Chị H đã bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/2022 ngày 10 tháng 3 năm 2022.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai cũng như đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Quách Văn H trình bày: Anh và chị Bùi Thị H1 đăng ký kết hôn ngày 11 tháng 7 năm 2018 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng anh, chị đoàn tụ hạnh phúc được khoảng hơn 01 tháng thì chị H1 tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ tại xã T, huyện T để ở, anh H nhiều lần khuyên nhủ chị H1 về để vợ chồng cùng chung sống, xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng chị H1 không về và thông báo với anh H là sẽ đi làm ăn. Đến tháng 10 năm 2018 thì chị H1 đi đâu, làm gì anh H không còn biết tin tức về chị nữa. Vì vậy anh H đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn tuyên bố chị Bùi Thị H1 mất tích. Ngày 10/3/2022 Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn đã ra quyết định số 01/2022/ QĐST- VDS, tuyên bố chị Bùi Thị H1 mất tích.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H1 không còn, đến nay anh H cũng không có tin tức gì về chị H1. Vì vậy anh H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn giải quyết cho anh được ly hôn chị Bùi Thị H1.

Về con chung: Anh H trình bày vợ chồng anh, chị chưa có con chung với nhau, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và phần nợ: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Bùi Thị H1, ngày 10/3/2022 Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn đã ra quyết định số 01/2022/ QĐST- VDS, tuyên bố chị Bùi Thị H1 mất tích. Quá trình giải quyết vụ án “ ly hôn” Tòa án nhân dân huyện Triệu sơn đã tiến hành xác minh tại UBND xã B, qua báo cáo của UBND xã được biết hiện tại chị H1 không có mặt tại gia đình và địa phương. Vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, đến nay vẫn không thấy chị H1 trở về địa phương để thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51; 56 luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 của bộ luật tố tụng dân sự; Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của anh Quách Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho anh H ly hôn chị Bùi Thị H1; Về con chung: Không có, nên không xem xét. Về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, chị Bùi Thị H1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố mất tích vào ngày 10/3/2022, đến nay chị H1 vẫn không có mặt tại địa phương. Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

.Về hôn nhân: Anh Quách Văn H và chị Bùi Thị H1 đăng ký kết hôn ngày 11/7/2018 tại UBND trên cơ sở tự nguyện, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn vợ chồng anh, chị thì thấy: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng anh, chị không tìm được tiếng nói chung trong gia đình, chưa thực sự quan tâm và chia sẻ với nhau, không có sự gắn kết vợ chồng, không quan tâm đến nhau. Đến tháng 10 năm 2018 chị H1 đã bỏ đi khỏi địa phương và đã bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/2022 ngày 10 tháng 3 năm 2022, đến nay chị H1 vẫn có mặt tại nơi cư trú cuối cùng. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự, điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Quách Văn H, xử cho anh Hòa được ly hôn chị Bùi Thị H1.

. Về con chung: Vợ chồng anh, chị chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

.Về tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

. Về án phí: Anh Quách Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của uỷ ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1, tiểu mục 1, mục II phần A danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016.

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Quách Văn H. Xử cho anh H được ly hôn chị Bùi Thị H1.

Về con chung: Vợ chồng anh chị không có con chung, nên không giải quyết.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

Về án phí: Anh Quách Văn H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo biên lai số AA/2021/0006571 ngày 20 tháng 4 năm 2022 nay trừ vào án phí ly hôn, anh H đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố cho anh Quách Văn H và chị Bùi Thị H1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ