vanban.org

Bản án 64/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, buộc bị đơn bà Nguyễn Thúy H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ số tiền 13.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hụi Nguyễn Thị Hồng Đ - Nguyễn Thuý H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, buộc bị đơn bà Nguyễn Thúy H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ số tiền 13.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:64/2022/DS-ST
Ngày: 29/7/2022
V/v "Tranh chấp
hợp đồng góp hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Thanh

2/ Ông Võ Thế Khoa

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Xuân Nga- kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2022/TLST- DS, ngày 30 tháng 3 năm 2022. về việc "Tranh chấp hợp đồng góp hụi" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:80/2022/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1966.

Địa chỉ :số 120/10, ấp A, xã B, huyện Long Hồ , tỉnh Vĩnh Long

Bị đơn: Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1972 .

Địa chỉ: số 215/19, ấp C, xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Đ trình bày:

Vào năm 2015 bà có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thúy H làm đầu thảo 02 dây hụi, mở cùng ngày 10/01/2015, hụi 1.000.000đ/tháng, mỗi tháng kêu một lần, mỗi dây gồm có 12 người thành viên, bà tham gia hai dây, khi tham gia có giấy hụi do bà H ghi các thành viên trong dây hụi đưa cho mỗi người giữ một tờ giấy hụi.

Trong thời gian chơi hụi bà đã đóng dây hụi 01 được 09 lần và đóng dây hụi hai cũng được 09 lần, tổng số tiền của hai dây hụi là 15.640.000đ, mỗi lần đóng bao nhiêu bà không nhớ, nhưng cộng dồn lại là 15.640.000đ, khi đóng hụi cho bà H không có ký nhận, không có sổ theo dõi hàng tháng, đến lần thứ 10 bà kêu hốt hụi thì bà H không có giao tiền cho bà, bà có đến đòi nhiều lần nhưng bà H cứ hẹn lần này đến lần khác vẫn không giao tiền hụi cho bà, đến ngày 10/12/2015 hụi đã mãn, sau đó giữa bà với bà H có chốt lại số tiền hụi, bà H khấu trừ số tiền bà còn thiếu của bà H các dây hụi khác nên bà H còn thiếu bà số tiền của hai dây hụi là 13.000.000đ, nhưng không có làm giấy biên nhận nợ.

Nay bà yêu cầu bà Nguyễn Thúy H trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 13.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2022 bị đơn bà Nguyễn Thúy H thừa nhận có làm đầu thảo và giao dịch hụi như nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng và đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là 13.000.000đồng.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thúy H đã được tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản trả lời ý kiến theo thông báo về việc thụ lý vụ án, cũng như không tham dự phiên hòa giải.

Tại phiên tòa hôm nay: nguyên đơn vẫn bảo lưu ý kiến.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát:

+ Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: buộc bị đơn phải nộp toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện bị đơn, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản trả lời ý kiến theo thông báo về việc thụ lý vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015.

Về nội dung:

- Xét yêu cầu của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thúy H trả cho nguyên đơn số tiền hụi 13.000.000đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, bởi vì:

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06/6/2022 bị đơn Nguyễn Thúy H thừa nhận có làm đầu thảo và giao dịch hụi như nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng và đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là 13.000.000đồng. Do đó đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản trả lời ý kiến theo thông báo về việc thụ lý vụ án, cũng như không tham dự phiên hòa giải, chứng tỏ bị đơn có nợ nguyên đơn nên cố tình vắng mặt, nhằm kéo dài thời gian trả nợ. Do đó, cần buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả ra cho nguyên đơn số tiền là 13.000.000đồng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Buộc bị đơn phải nộp toàn bộ.

- Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 143, 144,147, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Áp dụng các Điều 468, 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng Nghị Định 19/NĐ-CP/2019 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, buộc bị đơn bà Nguyễn Thúy H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Đ số tiền 13.000.000đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bị đơn bà Nguyễn Thúy H nộp 650.000 đồng.

- Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 391.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0003768 ngày 30/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ