vanban.org

Bản án 64/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 15/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp tài sản”.

Về án phí: 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Hải cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HÒA BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/ 2021/HS-ST
Ngày 01 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Văn Khiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

- Ông Nguyễn Chí Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung - Thẩm tra viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đông- Kiểm sát viên.

Ngày01tháng 11năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn mở phiên tòaxét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021, đốivới các bị cáo:

1. Bị cáo: Nguyễn Thanh H, sinh ngày 14/4/1994

HKTT và chỗ ở: thôn T, xã Thượng L, huyện Mỹ Đ, Thành phố H.Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Dung, sinh năm 1966 (đã chết)vàbàVũ Thị Luyển, sinh năm 1964; Có vợ là Dương Thị Thúy, sinh năm 1988, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2021đến nay.

* Người bị hại:

- Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1991 Trú tại: thôn Khánh V, xã Khánh H, huyện T T, Thành phố H Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Chị Tô Thị Kim Y, sinh năm 1991 Trú tại: thôn Khánh V, xã Khánh H, huyện TT, Thành phố H Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bùi Văn M, sinh ngày 15/2/1996 Trú tại: Xóm 7, xã Đồng T, huyện Mỹ Đ, Thành Phố H Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/6/1998 Trú tại: thôn T, xã T L, huyện Mỹ Đ, Thành phố H Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đinh Văn Đ, sinh ngày 28/5/1991 Trú tại: xóm 4, xã Đ T, huyện Mỹ Đ, thành phố H Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ, ngày 24/9/2015, Nguyễn Thanh H rủ Bùi Văn M, Đinh Văn Đ, Nguyễn Văn T là đi lấy tiền cùng H. Minh, Đ, T đồng ý. Sau đó H điều khiển xe chở M, còn T điều khiển chở Đ đi ra hướng Miếu Môn, rồi rẽ theo đường Hồ Chí Minh về hướng Chợ Bến. Trên đường đi H có nói với mọi người là: “Thi và Đạt đi phía sau còn H và Msẽ đi phía trước, khi nào thấy xe H chặn đầu xe máy thì T và Đ sẽ chặn ở đuôi xe máy đó”. Cả M, Đ, T đều hiểu là sẽ cùng H chặn xe máy người đi đường để cướp tài sản và đồng ý theo sự phân công của Hải.

Khi đi đến khu vực gần mỏ đá Cao Dương thuộc thôn Đồng Đăng, Cao Dương, Lương Sơn, Hòa Bình thì gặp anh Nguyễn Hoàng A, SN 1991, HKTT: Thôn Tiền Phong, xã Vũ Vân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình điều khiển xe máy chở vợ là chị Tô Thị Kim Y, SN 1991, HKTT: Khánh Vân, xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội đi hướng ngược chiều. Lúc này H vẫy tay ra hiệu, rồi điều khiển xe máy đuổi theo và chặn đầu xe của anh Hoàng A, còn T và Đ chặn phía sau. Sau đó H và M xuống xe và dùng tay đánh vào mũ bảo hiểm mà anh Hoàng A đang đội trên đầu. H nói với anh Hoàng A và chị Y là “Chúng mày đi qua chốt của tao sao không dừng lại”, rồi yêu cầu anh Hoàng A và chị Y đưa tiền cho H để được đi qua. Do sợ nên anh Hoàng A lấy 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) từ trong túi ra đưa cho H, còn chị Y lấy 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) đưa cho H. Sau khi cầm tiền thì H tiếp tục yêu cầu anh Hoàng A đưa điện thoại cho H, H nói là để H gọi cho anh của H ở trên chốt 2. Vì sợ nên Hoàng A lấy điện thoại Sky A850 đưa cho H và nói là điện thoại đã bị hết pin, nhưng H vẫn cầm chiếc thoại cho vào túi quần của H rồi yêu cầu anh Hoàng A và chị Y đi theo H thì mới trả điện thoại. Sau đó H bảo T và Đ đi trước dẫn đường để vợ chồng Hoàng A đi theo, còn H và M đi cuối cùng. Tất cả mọi người thực hiện theo lời H và đi xe theo hướng Chợ Bến đi Miếu Môn.

Đi được khoảng 100m thì Đ bảo Thi đi nhanh hơn, rồi bảo T điều khiển xe rẽ vào ngõ bên đường nhằm mục đích trốn, để đợi vợ chồng anh Hoàng A đi qua thì mới đi về. Lúc này H và M vẫn đi theo vợ chồng Hoàng A với mục đích tiếp tục cướp tài sản. Khi đi đến khu vực ngã ba dốc Sống thuộc xã Tân Thành (nay là xã Cao Dương), Lương Sơn, Hòa Bình, H thấy có một ngõ rẽ bên trái nên đã yêu cầu vợ chồng Hoàng A rẽ vào ngõ. Lúc này H tiếp tục uy hiếp vợ chồng Hoàng A, vì vậy chị Y lấy chiếc điện thoại Nokia 1280 đưa cho H. Do quá sợ, chị Y đã khóc và xin H, lúc này có một số người đi qua. H và M sợ bị phát hiện nên đã lên xe bỏ đi về hướng Miếu Môn. Khi đi gần đến ngã ba Miếu Môn thì H và M gặp Đ và T. Bốn đối tượng tiếp tục đi về hướng Ba Thá, Mỹ Đức, Hà Nội, đi được khoảng 300m thì dừng xe lại. Sau đó H thông báo là đã cướp được 280.000đ (Hai trăm tám mươi nghìn đồng), rồi H chia cho Minh 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng) chia cho T 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) và chia cho Đ 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Sau khi chia tiền xong, T điều khiển xe máy của T đi một mình về nhà, còn H điều khiển xe của Đ chở sau là Đ với M đi về quán Internet ở xóm 3, Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội chơi game.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị an đối với 04 bị can nói trên và đề nghị truy tố, xét xử đối với T, Đ và M, riêng H đã bỏ trốn nên cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự và truy nã đối với bị can H.

Ngày 21/05/2021 Nguyễn Thanh H bị Công an huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội bắt theo Quyết định truy nã.

Hội đồng định giá tài sản huyện Lương Sơn căn cứ kết quả khảo sát mua, bán thực tế trên thị trường kết luận vụ chiếc điện thoại Sky A850, màu đen giá 800.000 đồng; chiếc điện thoại NOKIA 1280, màu đen giá 200.000 đồng. Tổng số tiền 02 chiếc điện thoại giá: 1.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 59/CT-VKSLS, ngày 07/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội Cướp tài sản theo khoản 1 điều 168 Bộ luật hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh H, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoan 1 điều 168 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 điều 51; điểm o khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thanh H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 09/2016/HSST ngày 15/03/2016 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình nên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Tại Bản án số 09/2016/HSST ngày 15/03/2016 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình bị hại đã được bồi thường số tiền 4.900.000 đồng và không có đề nghị gì khác về vấn đề dân sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh H đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng; về mức hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào ngày 24/9/2015, tại khu vực mỏ đá Cao Dương thuộc thôn Đồng Đăng, Cao Dương, Lương Sơn, Hòa Bình Nguyễn Thanh H, cùng đồng bọn gồm Đinh Văn Đ, Bùi Văn M, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi cướp tài sản của anh Nguyễn Hoàng A, SN:1991, HKTT: thôn Tiền Phòng, Vũ Vân, Vũ Thư, Thái Bình và chị Tô Thị Kim Y, SN: 1991, HKTT: Khánh Vân, Khánh Hà, Thường Tín, Hà Nội lấy đi số tiền 300.000 đồng và 02 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại Sky A850, màu đen và 01 chiếc điện thoại NOKIA 1280, màu đen.

Hội đồng định giá tài sản huyện Lương Sơn căn cứ kết quả khảo sát mua, bán thực tế trên thị trường kết luận vụ chiếc điện thoại Sky A850, màu đen giá 800.000 đồng; chiếc điện thoại NOKIA 1280, màu đen giá 200.000 đồng. Tổng số tiền 02 chiếc điện thoại giá: 1.000.000 đồng.

Sau khi vụ án bị phát giác các đối tượng Đinh Văn Đ, Bùi Văn M, Nguyễn Văn T đã bị điều tra, truy tố và đưa ra xét xử theo bản án số 09/2016/HSST, ngày 15/3/2016.

Đối với Nguyễn Thanh H sau khi gây án đã bỏ trốn, có quan điều tra Công an huyện Lương Sơn đã ra lệnh truy nã và tách vụ án, đến ngày 21/5/2021 Nguyễn Thanh H bị bắt.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác do đó có đủ cơ sở kết luận cáo trạng số 59/CT-VKSLS, ngày 07/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội Cướp tài sản là có căn cứ. Về điều luật áp dụng do có sự sửa đổi bổ sung của Bộ luật tố tụng hình sự, sự chuyển biến tình hình tội phạm, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12 năm năm 2017 thì “Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử” do đó đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn áp dụng điều 168 Bộ luật hình sự để truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong vụ án này Nguyễn Thanh H và các đối tượng khác thực hiện hành vi cướp tài sản tuy nhiên hành vi các bị cáo thực hiện không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người khởi sứng và rủ rê lôi kéo, súi dục các đối tượng Bùi Văn M, Đinh Văn Đ, Nguyễn Văn T, trong đó Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/6/1998, thời điểm T cùng H thực hiện hành vi phạm tội mới 17 tuổi, 03 tháng, 07 ngày do đó Nguyễn Thanh H phải chịu tỉnh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm o khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có ông Ngoại là Vũ Văn Chuyền và bạc ruột là Vũ Văn Chuyển có công với cách mạng được tặng thưởng Huận chương kháng chiến chống mỹ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án tiền sự.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giải đơn, trong đó bị cáo là người khởi xứng chủ động lôi kéo, xúi dục các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng cần lên một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trong vụ án này còn có các đồng phạm với Nguyễn Thanh H là Bùi Văn M, Đinh Văn Đ, Nguyễn Văn T, sau khi vụ án bị phát giác các đối tượng trên đã đến cơ quan Công an đầu thú, hành vi của M, Đ, T, đã được xét xử theo bản án số 09/2016/HSST, ngày 15/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn nên được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 09/2016/HSST ngày 15/03/2016 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình nên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được xử lý tại bản án số 09/2016/HSST, ngày 15/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, nay người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu đề nghị gì thêm nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 điều 12, điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm o khoản 1 điều 52; điều 38; điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/5/2021).

2. Về án phí: 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt, kể từ ngày nhận được bản án đối với người vắng mặt. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ