- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN H Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:64/2021/HS-ST Ngày 21/12/2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Lâm
Ông Lê Lý Bằng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa:
Ông Lê Công Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với:
Bị cáo Hoàng Trọng N; sinh năm 1969 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng Đ và bà Hoàng Thị X; có vợ Phạm Thị B và có 04 con; tiền sự; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/02/2021 đến ngày 19/8/2021 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Anh Hoàng Trọng T, sinh năm 1983. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Trọng B, sinh năm 1973. Có mặt.
2. Chị Trần Thị T, sinh năm 1991. Vắng mặt.
3. Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1940. Vắng mặt.
4. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1958. Vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn gia đình trong việc chia thừa kế và làm giấy tờ sang tên đất. Vào khoảng 15h 30’ ngày 29/01/2021. Hoàng Trọng N sau khi uống rượu với bạn ở xã T, huyện H về nhà, đã rẽ vào nhà mẹ đẻ là bà Hoàng Thị X để hỏi chuyện đất đai, do đã uống rượu không làm chủ được bản thân N đã chửi và gọi tên ông Đ và bà X và trèo lên chiếc bàn gỗ đặt cạnh bàn thờ gia tiên chửi bới, sau đó cầm con dao gọt hoa quả có cán màu vàng có sẵn trên bàn đâm 2-3 nhát xuống bàn để dọa mọi người, được anh Hoàng Trọng T và anh Hoàng Trọng B là em trai của N can ngăn thì N đuổi anh B về, anh T thấy vậy điện báo cáo Công an xã T, lúc này chị Trần Thị T (vợ của anh Hoàng Trọng T) cầm điện thoại di động quay camera ghi lại hình ảnh của N đang chửi bới, thấy vậy N quay ra chửi chị T và yêu cầu chị T bỏ điện thoại xuống nhưng chị T vẫn tiếp tục quay nên N cầm dao đuổi theo chị T để lấy chiếc điện thoại, không cho chị T quay camera, chị T bỏ chạy ra sân thì bị vấp ngã sấp xuống sân, còn N bị mất đà ngã theo về phía sau chị T. Lúc này anh Hoàng Trọng T thấy N đuổi theo chị T nên chạy lại để can ngăn, do đang bức xúc trong người nên Hoàng Trọng N đã cầm con dao gọt hoa quả đâm về phía anh T, làm anh T bị thương vào bụng bên trái, cùng lúc lực lượng Công an xã T cũng có mặt, kịp thời hỗ trợ và đưa Hoàng Trọng N về trụ sở Công an xã T làm việc, còn anh Hoàng Trọng T được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa Hợp Lực, tỉnh Thanh Hóa để cấp cứu và điều trị vết thương.
Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã phối hợp cùng Công an xã T tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án, thu giữ 01 con dao loại dao gọt hoa quả, cán dài 8cm bằng nhựa màu vàng có chữ KiWi, lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, màu trắng bạc, đầu nhọn, là vật chứng của vụ án, đồng thời tiến hành trích xuất và thu giữ hình ảnh camera từ điện thoại của chị Trần Thị T ghi lại sự việc xảy ra ngày 29/01/2021 là 02 đoạn video có dung lượng 13,8MB và 41,7 MB vào đĩa CD-R.
Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể lúc 17h ngày 29/01/2021 tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực tỉnh Thanh Hóa, anh Hoàng Trọng T bị 01 vết thương thành bụng 1/4 dưới bên trái kích thước 3x2 cm, miệng vết thương nham nhở chảy máu, không thấy lòi tạng.
Tại bản kết luận giám định về thương tích số 85/2021/TTPY ngày 05/2/2021 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Hoàng Trọng T là 44% (Bốn mươi bốn phần trăm).
Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung số: 86/2021/TTPY ngày 05/02/2021 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Nếu sử dụng con dao như mô tả tại Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 07 ngày 05/02/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H. Hoàn toàn gây ra được vết thương bụng trái anh Hoàng Trọng T.
Theo báo cáo của bị hại anh Hoàng Trọng T sau khi bị thương, phải cấp cứu và điều trị vết thương tại Bệnh viện Hợp Lực, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 29/01/2021 đến ngày 05/02/2021 ra viện về nhà điều trị (thời gian 6 ngày). Ngày 08/4/2021 gia đình Hoàng Trọng N đã tự nguyện bồi thường toàn bộ tiền thuốc men, viện phí, tiền công, công chăm sóc, chi phí phương tiện đi lại và bồi thường tổn thất sức khỏe, tinh thần một lần cho bị hại tổng số tiền 100.000.000 đồng, anh Hoàng Trọng T không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Cáo trạng số 65/CT-VKSHL ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Hoàng Trọng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Hoàng Trọng N 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm Dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 con dao gọt hoa quả cán bằng nhựa màu vàng dài 8cm có chữ KiWi, lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, màu trắng bạc, đầu nhọn.
02 đoạn video có dung lượng 13,8MB và 41,7 MB vào đĩa CD-R được trích xuất từ camera điện thoại của chị Trần Thị T ngày 29/01/2021 đưa vào lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như hình phạt. Bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, đã bồi thường toàn bộ chi phí điều trị. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, do bị cáo bức súc không làm chủ được bản thân, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên bị cáo mới phạm tội vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn gia đình trong việc chia thừa kế và làm giấy tờ sang tên đất nên khoảng 15h30’ ngày 29/01/2021 sau khi uống rượu cùng với bạn, trên đường về nhà Hoàng Trọng N đã vào nhà mẹ đẻ là bà Hoàng Thị X chửi bới, khi được mọi người can ngăn N vẫn tiếp tục chửi thì chị T dùng điện thoại quay camema, thấy vậy Hoàng Trọng N cầm con dao gọt hoa quả đuổi chị T, anh Hoàng Trọng T chạy lại thì Hoàng Trọng N dùng dao gây thương tích cho anh Hoàng Trọng T là em ruột của bị cáo.
Tại bản kết luận giám định về thương tích số 85/2021/TTPY ngày 05/2/2021 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Hoàng Trọng T là 44% (Bốn mươi bốn phần trăm).
Hành vi dùng dao là loại hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Hoàng Trọng T của bị cáo Hoàng Trọng N đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự .
Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Hoàng Trọng N đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được tôn trọng về sức khỏe được pháp luật bảo vệ. Hành vi gây thương tích của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu trong khu vực dân cư. Do đó cần phải có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị cáo có bố, mẹ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương. Do đó cần áp dụng các quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt và thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà bị hại đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương. Do đó cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xét xử dưới khung điều luật quy định và có thể cho bị cáo cải tạo giáo dục tại địa phương là phù hợp với quy định của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng: 01 con dao gọt hoa quả cán bằng nhựa màu vàng dài 8cm có chữ KiWi, lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, màu trắng bạc, đầu nhọn; cần tịch thu tiêu hủy.
02 đoạn video có dung lượng 13,8MB và 41,7 MB vào đĩa CD-R được trích xuất từ camera điện thoại của chị Trần Thị T ngày 29/01/2021 cần được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54, khoản 1, 2 Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1, 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng N 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách giao bị cáo Hoàng Trọng N cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao gọt hoa quả cán bằng nhựa màu vàng dài 8cm có chữ KiWi, lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, màu trắng bạc. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 04a/BBVC-CCTHA ngày 28/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).
02 đoạn video có dung lượng 13,8MB và 41,7 MB vào đĩa CD-R được trích xuất từ camera điện thoại của chị Trần Thị T ngày 29/01/2021 được đưa vào lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Trọng N chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa. - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Hc. - Cơ quan điều tra Công an huyện H. - Cơ quan THA hình sự huyện H. - Chi cục THA dân sự huyện H. - Bị cáo, bị hại. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Đã ký) Cao Thị Nga |