vanban.org

Bản án 64/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lô Văn B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lô Văn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Lô Văn B phải trả lại cho ông Kha Thanh Ng số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lô Văn B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/HS-ST
Ngày 27 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

[

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Lợi. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Ông Đào Xuân Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2021/TLST- HS ngày 29 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2021/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Lô Văn B, sinh ngày 06 tháng 5 năm 1998 tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: thôn Thanh Đ, xã Bồng Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 10/12; Dân tộc: thái; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lô Văn Ph (đã chết) và bà Vi Thị L, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Vi Văn T, sinh năm 1995. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Tiến Th, xã Chi Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Kha Thanh Ng, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Bản Khe Q, xã Xiêng M, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12 tháng 06 năm 2021, Lô Văn B, trú tại thôn Thanh Đ, xã Bồng Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đến quán cắt tóc k4, thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, Nghệ An của anh Vi Văn T, sinh năm 1995, trú tại Thôn Tiến Th, xã Chi Kh, huyện Con Cuông để chơi. Một lúc sau, B nhờ anh T chở đến cầu treo Thanh N thuộc Thôn Tiến Th, xã Chi Kh, huyện Con Cuông thì anh T đồng ý. Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37Z8-4383 chở B đến cầu treo Thanh Nam. Khi anh T chở B đến cầu treo Thanh Nam thì B nói với anh T: “Anh cho mượn xe máy đi đây một tý rồi em trả”, anh T đồng ý cho B mượn xe. Sau khi mượn được xe của anh T, B điều khiển xe mô tô đi đến xã Xiêng M, huyện Tương Dương, Nghệ An để chơi. Còn anh T đứng chờ B một lúc nhưng không thấy B quay lại nên anh T đi về. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 17/6/2021, do không có tiền tiêu xài nên B đã đưa chiếc xe cầm cắm cho ông Kha Thanh Ng, sinh năm 1958, trú tại Bản Khe Q, xã Xiêng M, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An với giá 500.000 đồng. B dùng số tiền đó chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 15/6/2021 anh T có đơn trình báo đến công an xã Chi Kh, huyện Con Cuông về việc B chiếm đoạt tài sản xe máy của anh.

Đến ngày 19/6/2021, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên B đã đến Công an xã Chi Kh, huyện Con Cuông để đầu thú.

Ngày 20/6/2021 Công an xã Chi Kh, huyện Con Cuông tiến hành tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37Z8-4383, do B cầm cố cho ông Kha Thanh Ng.

Cùng ngày 20/6/2021, Công an xã Chi Kh bàn giao tang vật và các tài liệu khác cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 22/6/2021 cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông yêu cầu định giá giá trị tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen. Biển kiểm soát: 37Z8–4383, số khung: 30Ay399660, số máy: 5C63299715. Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 23/06/2021 của Hội đồng định giá tài sản TTHS - huyện Con Cuông kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu đỏ đen; biển kiểm soát: 37Z8 – 4383; số khung: 30Ay399660; số máy: 5C63299715 đã bị hư phần còi và bộ đề nổ, xe đã qua sử dụng. Tại thời điểm bị lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trị giá là: 5.000.000đồng.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 16/07/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông, ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Vi Văn T 01 chiếc xe mô tô kiểm soát: 37Z8 – 4383. Về dân sự anh T không có yêu cầu gì.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Kha Thanh Ng yêu cầu B phải trả lại 500.000 đồng mà B cầm cố xe.

Cáo trạng số: 55/CT - VKS - CC ngày 29/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo Lô Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bản thân bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lô Văn B từ 06 tháng đến 09 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; về dân sự: người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét; buộc bị cáo phải trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan số tiền 500.000 đồng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

- Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được sử dụng làm chứng cứ đề Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/6/2021 tại cầu treo thuộc Thôn Tiến Th, xã Chi Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Lô Văn B đã có hành vi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, biểm kiểm soát 37Z8-4383 của anh Vi Văn T trú tại Thôn Tiến Th, xã Chi Kh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, đến khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 17/6/2021 B có hành vi đem chiếc xe máy đó đi cầm cố cho ông Kha Thanh Ng lấy số tiền 500.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Chiếc xe có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.000.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Vì vậy hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết tội bị cáo B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng do hám lợi bất chính, lười lao động, bị cáo đã lợi dụng lòng tin của người bị hại để mượn tài sản (xe mô tô) sau đó sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là cầm cố để lấy tiền mua ma túy sử dụng dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 175 của Bộ luật hình sự , bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Nhưng xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, chưa có vợ con tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người bị hại anh Vi Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Trong vụ án này, có ông Kha Thanh Ng là người nhận cầm cố chiếc xe của B với số tiền là 500.000 đồng nhưng ông Nguyên không biết chiếc xe đó do B chiếm đoạt của anh T nên không có cơ sở để xử lý về mặt hình sự song cũng cần nhắc nhở ông Nguyên khi nhận cầm cố tài sản của người khác cần tìm hiểu rõ nguồn gốc để tránh tiếp tay cho tội phạm. Tại phiên tòa ông Nguyên vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra ông yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ông số tiền 500.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của ông Nguyên là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bị cáo phải trả lại cho ông Nguyên.

Về vật chứng: Ngày 16 tháng 7 năm 2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Con Cuông đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu là anh Vi Văn T là đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dan sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lô Văn B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lô Văn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Lô Văn B phải trả lại cho ông Kha Thanh Ng số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lô Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Phan Hồng Lợi

Cỡ chữ