vanban.org

Bản án 64/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 13/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tu 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Tu cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuan - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/HS-ST
Ngày 13 -7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Năm

Bà Lê Thị Bích Thuần

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Tu, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1984 tại thị trấn Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố Minh Lương, thị trấn Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm mộc; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Cần và bà Nguyễn Thị Tích; có vợ là: Nguyễn Thị Phương Anh và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

- Bị hại: Ông Lưu Đức N, sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ dân phố Đầu Làng, thị trấn Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Duy Q, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố Đồng Sáo, thị trấn Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23 tháng 01 năm 2021, Nguyễn Văn Tu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 88G1 – 043.88, đi từ nhà đến khu làng nghề thị trấn Thanh Lãng để mua thức ăn tối cho gia đình, khi đi đến khu làng nghề thị trấn Thanh Lãng Tuấn quan sát thấy có các khối gỗ hình hộp chữ nhật của gia đình ông Lưu Đức N để ở ven đường tỉnh lộ 303 và được xếp thành đống, không có người trông giữ nên Tuấn nảy sinh ý định trộm cắp, đồng thời Tuấn quay xe lại theo hướng đi sang huyện Yên Lạc rồi rẽ vào đường cánh đồng cách vị trí để gỗ khoảng 57m dựng xe ở đó để tránh bị phát hiện, rồi đi bộ qua ruộng lúa đến đống gỗ, dùng hai tay kéo 01 đầu thanh gỗ đến vị trí dựng xe mô tô, để nằm ngang lên trên yên xe mô tô, sau đó Tuấn tiếp tục quay trở lại đống gỗ kéo 01 thanh gỗ mang lại vị trí xe mô tô, khi Tuấn đang đặt thanh gỗ thứ hai chồng lên yên xe thì bị ông Nam phát hiện bắt quả tang. Sau khi bị phát hiện Tuấn bỏ lại đôi dép nhựa đang đi ở chân, 02 thanh gỗ cùng xe mô tô rồi bỏ chạy. Cơ quan điều tra tổ chức khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88G1 – 043.88, 02 thanh gỗ hình hộp chữ nhật có khích thước là (2,2m x 10 cm x 20 cm) và (2,2m x 10 cm x 23 cm), 01 đôi dép nhựa màu đỏ đen. Ngoài ra còn thu giữ 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát: 88G1 – 043.88.

Cơ quan điều tra triệu tập Tuấn đến làm việc, tại cơ quan điều tra Tuấn đã khai nhận hành vi trộm cắp 02 thanh gỗ của ông Nam như nêu trên.

Ngày 20 tháng 2 năm 2021 Cơ quan điều tra và ông Lưu Đức N đã tiến hành cắt rời 02 mẩu gỗ có kích thước 2,5 x 7 x 1,5cm và 03 x 10 x 1,5cm từ 02 thanh gỗ mà Tuấn trộm cắp, được ký hiệu M1 và M2 để phục vụ điều tra. Tại Kết luận giám định số 77/CNR-VP ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, kết luận: 02 mẫu gỗ giám định đồng nhất một chủng loại gỗ. Tên và nhóm gỗ như sau: Tên thương mại Việt Nam/Quốc tế: Pao Rosa (Pau rosa)

Tên khoa học: Bobgunnia fistuloides (Harms) J. H. Kirkbr. &Wiersema

Tên khoa học khác: Swartzia fistuloides Harms

Loài Pao rosa (Bobgunnia fistuloides) là loài cây gỗ thuộc chi Bobgunnia họ Đậu (Fabaceae), chưa thấy ghi nhận có phân bố tự nhiên tại Việt Nam. Theo tài liệu hiện có, loài này có phân bố tự nhiên tại một số nước thuộc khu vực Châu Phi… Không hoàn lại mẫu giám định.

Tại kết luận định giá số 28/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 3 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản huyện Bình Xuyên, kết luận: 02 thanh gỗ hình hộp chữ nhật có kích thước lần lượt là (220 x 10 x 20) cm và (220 x 10 x 23) cm, loại gỗ tên thương mại là Pao Rosa có tổng trị giá là 7.166.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 71/CT-VKSBX ngày 11 tháng 6 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố Nguyễn Văn Tu về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tuấn từ từ 08 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng. Đồng thời đề nghị về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Bị hại trình bày và xác nhận: Bị cáo trình bày về việc trộm cắp gỗ của gia đình ông là đúng. Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về phần dân sự; về hình phạt ông đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày và xác nhận: Anh có cho bị cáo Tuấn mượn xe mô tô biển kiểm soát 88G1- 043.88 để làm phương tiện đi lại, việc bị cáo Tuấn dùng xe mô tô đi trộm cắp tài sản anh không biết, anh đề nghị Hội đồng xét xử cho anh xin lại xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tu thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23 tháng 01 năm 2021 tại ria đường tỉnh lộ 303 thuộc khu vực làng nghề thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, Nguyễn Văn Tu đã lén lút trộm cắp 02 thanh gỗ hình hộp chữ nhật có khích thước là (220 x 10 x 20)cm và (220 x 10 x 23)cm, có tên thương mại là Pao Rosa của gia đình ông Lưu Đức N. Tổng trị giá của 02 thanh gỗ là 7.166.000 đồng. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vật chứng vụ án đã thu giữ…; cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; từ đó có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Tuấn đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình ông Nam đã trộm cắp 02 thanh gỗ có tổng trị giá 7.166.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo lấy tài sản của gia đình ông Nam cho lên yên xe mô tô thì đã bị phát hiện và bị bắt quả tang, tài sản đã thu hồi được trả cho bị hại nên chưa gây thiệt hại, sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai là vi phạm pháp luật nên đã đến gia đình bị hại xin lỗi và xin bồi thường nhưng bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự đồng thời bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tuấn nên bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên cần tạo cho bị cáo một cơ hội, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Đối với 02 thanh gỗ hình hộp chữ nhật có khích thước là (220 x 10 x 20) cm và (220 x 10 x 23) cm, Cơ quan điều tra xác định là của ông Lưu Đức N nên đã trả lại cho ông Nam. Sau khi nhận lại tài sản ông Nam không yêu cầu Tuấn phải bồi thường gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần dân sự trong vụ án.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88G1- 043.88 và 01 đăng ký xe mô tô, quá trình điều tra xác định là của anh Nguyễn Duy Q cho Tuấn mượn làm phương tiện đi lại. Anh Quang không biết Tuấn dùng chiếc xe mô tô của anh đi trộm cắp tài sản nên cần trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 88G1- 043.88 và đăng ký xe cho anh Quang.

Đối với 01 đôi dép nhựa màu đỏ đen Tuấn đi ngày 23/01/2021, Tuấn không dùng vào việc phạm tội nhưng Tuấn không nhận lại. Hiện đôi dép đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tu 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Tu cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Th, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Trả lại cho anh Nguyễn Duy Q 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88G1- 043.88 và 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát: 88G1 – 043.88 mang tên Nguyễn Duy Q.

Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu đỏ đen.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 14 tháng 6 năm 2021).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tu phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ