- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyen Thị Ngọc H với ông Hà Lê Thành T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H, cho bà Nguyễn Thị Ngọc H ly hôn với ông Hà Lê Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 17-12-2021. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Bé.
Ông Đinh Ngọc Dình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1996, địa chỉ: Số nhà 150, ấp G, xã T, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.(có mặt)
Bị đơn: Ông Hà Lê Thành T, sinh năm 1990, địa chỉ: Số nhà 199/8, ấp C, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Nguyễn Thị Ngọc H là nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Bà H và ông T kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An Lục Long vào năm 2018. Bà H và ông T chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà H và ông T không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả. Bà H và ông T sống ly thân với nhau khoảng hơn 01 năm.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên bà H quyết định ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên, sinh ngày 11/6/2018, hiện nay con chung đang sống chung với bà H. Do khi sinh con, bà H và ông T chưa đăng ký kết hôn, nên trong giấy khai sinh của con không ghi tên cha. Nếu được ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên, bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con định kỳ mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng là từ tháng 01 năm 2022 cho đến khi con đủ mười tám tuổi.
Về tài sản chung: Bà H và ông T tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Bà H cam kết là bà H và ông T không có nợ chung.
Bị đơn là ông Hà Lê Thành T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Lê Thành T kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An vào năm 2018. Nay bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn với ông Hà Lê Thành T, căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết.
Ông Hà Lê Thành T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với ông Hà Lê Thành T.
Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Lê Thành T chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Lê Thành T không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả. Các đương sự không hòa giải được mâu thuẫn làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Lê Thành T không còn sống chung với nhau đến nay khoảng hơn 01 năm. Xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự là trầm trọng, đời sống chung của các đương sự không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H, cho bà Nguyễn Thị Ngọc H ly hôn với ông Hà Lê Thành T.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Hà Lê Thành T có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên, sinh ngày 11/6/2018, hiện nay con chung đang sống chung với bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên, bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con định kỳ mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng là từ tháng 01 năm 2022 cho đến khi con đủ mười tám tuổi. Ông Hà Lê Thành T không có ý kiến gì về việc nuôi con. Yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc H phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, ông Hà Lê Thành T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng các khoản 5 và 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc H, cho bà Nguyễn Thị Ngọc H ly hôn với ông Hà Lê Thành T.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên, sinh ngày 11/6/2018 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ông Hà Lê Thành T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên mỗi tháng, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng, thời gian bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là từ tháng 01 năm 2022 cho đến khi con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Nguyên đủ mười tám tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp theo biên lai thu số 0000870, ngày 23 tháng 02 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ông Hà Lê Thành T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm do thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
4. Bà Nguyễn Thị Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Hà Lê Thành T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:
| - Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; - Chi cục thi hành án DS huyện Châu Thành; - UBND xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu (hồ sơ, án văn). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Tùng |