vanban.org

Bản án 64/2021/DSPT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/04/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Phạm Văn T buộc Ủy ban nhân dân x TP phải bồi thường thiệt hại số tiền là 1.

Về án phí: ng Phạm Văn T phải chịu 49.394.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông Phạm Văn T đ nộp 21.483.000đ tại biên lai thu số 0000040 ngày 25/12/2019 và 5.356.000đ tại biên lai thu số 0000035 ngày 24 12 2019. ng Phạm Văn T còn phải nộp 22.555.000đ án phí dân sự sơ thẩm. ng Phạm Văn T phải chịu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Phạm Văn T buộc Ủy ban nhân dân x TP phải bồi thường thiệt hại số tiền là 1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/DSPT
Ngày: 29/4/2021
V/v: Tranh chấp bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh BN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05, 14 và 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 31/2020/TLPT-DS ngày 30/11/2020 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2020/DS-ST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh BN bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2021/QĐ-PT ngày 06/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh BN giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ng Phạm Văn T, sinh năm 1970 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn CĐ, x TP, huyện TD, tỉnh BN.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ng Cung Văn T1, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn LA, xã SG, huyện GB, tỉnh BN (ông T1 vắng mặt ngày 29/4/2021).

- Bị đơn: Ủy ban nhân dân x TP, huyện TD.

Người đại diện theo pháp luật: ng Đinh Văn H - Chức vụ: Ph Chủ tịch phụ trách điều hành UBND x Tri Phương.

Người đại diện theo ủy quyền: ng V Quang T2 - Ph chủ tịch UBND x TP(có mặt).

- Ngư i c quy n i ngh a v iên quan:

1. Thôn CĐ, x TP, huyện TD, tỉnh BN do ông Đặng Công H - Chức vụ: Trưởng thôn có mặt).

2. ng Đào Tiến B, sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn L, x TP, huyện TD, tỉnh BN.

3. Ông ê Đắc T3, sinh năm 1961 có mặt).

Địa chỉ: Thôn CĐ, x TP, huyện TD, tỉnh BN.

Ngư i có kháng cáo: Ông Phạm Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án c nội dung như sau:

Nguyên đơn ông Phạm Văn T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Cung Văn T1 trình bày: Ông T yêu c u Ủy ban nhân dân viết tắt là UBND) x TP phải bồi thường thiệt hại về vật chất và kinh tế cho ông t năm 2001 đến năm 2019 với số tiền thiệt hại là 1.246.481.000đ. ý do t năm 2001 đến năm 2007, UBND x TP và thôn CĐ cố tình gây thiệt hại kinh tế cho ông liên quan đến tiền xây dựng công trình cứng h a kênh tưới loại III thôn CĐ, ông bị thiệt hại 118.227.000đ; đồng thời tại Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004 giữa thôn CĐ với ông c xác nhận của ông Phan Văn T4 thời kỳ đ là Chủ tịch UBND x TP c giá trị đến ngày 07 8 2009 nH năm 2007 ông Đào Tiến B - Chủ tịch UBND x TP đ tự ý chuyển nhượng khu b i đất Đ cho Công ty NH gây thiệt hại cho ông 914.000.000đ. Đối với chính quyền thôn CĐ t năm 2001 đến năm 2007 gây thiệt hại cho ông về kinh tế, lúc đ ông là chủ th u các công trình xây dựng thôn CĐ, thiệt hại bị t n thất là 214.254.000đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đ i một ph n yêu c u khởi kiện, cụ thể: Nguyên đơn yêu c u UBND x TP phải bồi thường t ng số tiền là 1.246.481.000đ bao gồm 02 khoản. Thứ nhất, phải bồi thường thiệt hại liên quan đến hợp đồng số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004 là 853.481.000đ. Thứ hai, bồi thường thiệt hại số tiền 393.000.000đ liên quan đến th a thuận của UBND x TP về việc nợ ông Phạm Văn T theo Quyết định công nhận sự th a thuận số 03 2009 QĐ T-KT ngày 08 01 2009 của TAND huyện TD c ng biên bản hòa giải thành được lập ngày 31 12 2008 số tiền 393.000.000đ liên quan đến 25 hợp đồng mà ông T đ làm cho thôn CĐ, x TP trước đ , gồm cả khoản liên quan đến Công ty HH); nguyên đơn không yêu c u giải quyết tranh chấp về các hợp đồng mà chỉ yêu c u đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nguyên đơn kh ng định không phải xuất trình những chứng cứ liên quan đến các hợp đồng kể trên.

Bị đơn UBND x TP do ông V Quang T2 đại diện trình bày: Đối với yêu c u khởi kiện của nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến xây dựng các công trình trên địa bàn thôn CĐ t năm 2001 đến năm 2007. Tại biên bản làm việc ngày 15 7 2008 giữa UBND x TP và ông Phạm Văn T th a thuận thống nhất rút lại đơn khởi kiện tại TAND huyện TD để các bên tự giải quyết ở địa phương. Quá trình giải quyết vụ việc, hồ sơ các công trình mà ông T khởi kiện đ không cung cấp được đ y đủ văn bản để làm cơ sở thanh toán. Xét về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường, UBND x TP thấy t khi c kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh BN năm 2010, nguyên đơn biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại đ không c yêu c u giải quyết tiếp đến nay đ 10 năm, do vậy yêu c u đòi bồi thường thiệt hại của nguyên đơn là không ph hợp với quy định của pháp luật.

Ngày 03 11 2009, nguyên đơn rút lại các tài liệu c liên quan tại UBND x thể hiện không phối hợp thực hiện. Như vậy l i thuộc về phía nguyên đơn, đề nghị Tòa án bác yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 21 8 2019, nguyên đơn khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại liên quan đến Hợp đồng số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004, UBND x TP xác định hợp đồng này liên quan đến cải tạo b i đất Đ, thôn CĐ. Tại thời điểm năm 2006 UBND x TĐ nhận được nhiều đơn thư tố cáo về những sai phạm của Ban quản lý thôn và cá nhân ông ê Đắc T3 (Trưởng thôn). Để giữ n định tình hình trong thôn, UBND x TP đ thành lập t công tác giải quyết đơn kiến nghị của nhân dân, tại thời điểm này ông Phạm Văn T là em rể ông ê Đắc T3 đang thực hiện một số công việc với Ban quản lý thôn CĐ về việc cải tạo hạ độ cao b i Đ. Quá trình t công tác giải quyết gặp nhiều kh khăn, ngày 13 9 2006 t công tác đ c kết luận về việc giải quyết đơn kiến nghị của nhân dân thôn CĐ. Kết luận đ qua g n 14 năm, t đ đến nay không c khiếu kiện gì, các thành ph n đ tự nguyện thi hành. Nay ông T kiện ra tòa đòi bồi thường thiệt hại là không ph hợp với quy định của pháp luật. Mặt khác, liên quan đến khu b i đất Đ và Hợp đồng chuyển nhượng b i đất Đ giữa UBND x TP và Công ty NH thì UBND x TP kh ng định không c sự th a thuận về hợp đồng chuyển nhượng b i đất Đ cho Công ty NH vì b i đất Đ thôn CĐ, x TP được giao cho Công ty NH theo Quyết định số: 256 QĐ-UBND ngày 15/02 2007 của UBND tỉnh BN về việc thu hồi đất và giao đất cho Công ty NH thuê để xây dựng c u cảng bốc xếp, kinh doanh vật liệu xây dựng tại huyện TD với t ng diện tích thu hồi là 120.985 m2. Diện tích b i đất Đ mà nguyên đơn khởi kiện n m trong diện tích đất thu hồi trên, đ c quyết định phê duyệt phương án bồi thường và thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, bàn giao mặt b ng của các chủ sử dụng đất. UBND x TP không c l i trong việc này nên không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn bởi thời hiệu khởi kiện không còn và nguyên đơn khởi kiện không c căn cứ pháp luật.

Người c quyền lợi ngh a vụ liên quan ông Đào Tiến B trình bày: Ông kh ng định Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004 là do Ban quản lý thôn CĐ do ông ê Đắc T3 (Trưởng thôn) ký với ông Phạm Văn T. Thời điểm đ , ông làm X đội trưởng nên không được tham gia và không biết hợp đồng kinh tế này. Đến tháng 6 2004, ông Phan Văn T4 chuyển sang làm Chủ tịch Hội đồng nhân dân x TPcòn ông giữ chức Chủ tịch UBND x . Đến năm 2007, UBND tỉnh BN c quyết định thu hồi toàn bộ diện tích khu b i đất Đồng T . UBND x TP đ thực hiện theo đúng quyết định thu hồi của UBND tỉnh và tiến hành giải quyết những quyền lợi cho những người liên quan. Thời điểm đ , UBND x TP không tự ý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với ông Phạm Văn T như nguyên đơn trình bày.

Người c quyền lợi ngh a vụ liên quan là tập thể cán bộ thôn CĐ do ông Nguyên Công H - Trưởng thôn trình bày: Thời điểm năm 2004 - 2005, ông có làm chủ th u một ph n khu ruộng thuộc đất Đồng T , ông Phạm Văn T không c bất kì cải tạo nào thuộc khu đất Đồng T này. Tháng 9 2006, ông làm Trưởng thôn CĐ, x TP. ng ê Đắc T3 làm Trưởng thôn nhiệm kỳ trước không bàn giao giấy tờ s sách gì liên quan đến khu đất Đ. Đối với yêu c u của ông T khởi kiện buộc chính quyền thôn CĐ phải trả ông T số tiền 214.227.000đ thuộc về trách nhiệm của Ban quản lý c do ông T3 làm Trưởng thôn. Trên thực tế trong biên bản kiểm kê t ng kết hết nhiệm kỳ 2001-2006 đ được thông qua ngày 10 5 2006 chỉ thể hiện khoản nợ ông T số tiền 5.000.000đ, thôn CĐ đ trả 3.000.000đ, còn nợ ông T 2.000.000đ. Không liên quan gì đến số tiền 214.227.000đ theo yêu c u khởi kiện của ông T.

Người c quyền lợi ngh a vụ liên quan ông ê Đắc T3 trình bày: Ông nguyên là Trưởng thôn CĐ, x TP thời kỳ 2001-2006, lúc này ông c được UBND x TP do ông Phan Văn T4 đại diện ký) ủy quyền cho ông ký Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004 với ông Phạm Văn T. Sau khi ông T4 chuyển công tác khác, ông Đào Tiến B làm Chủ tịch UBND x c ng ông Nguyễn Danh H1 là cán bộ địa chính x đ tự ý chuyển nhượng khu b i đất Đ đang c hợp đồng kinh tế với ông T để chuyển nhượng cho Công ty Nam Hồng. Việc UBND x TP đ đơn phương chấm dứt hợp đồng kinh tế trên trước thời hạn 02 năm với ông T là vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho ông T là đúng thực tế. Khi ông ký Hợp đồng số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004 với ông Phạm Văn T là ông đ đại diện cho chính quyền thôn CĐ được sự ủy quyền của UBND x TP. Đến khi UBND x TP tự ý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với ông T thì ông đ nghỉ hưu. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19 8 2020, ông T3 cung cấp bản sao biên bản bàn giao mặt b ng khu b i đất Đ được lập ngày 25 3 2004, ông T3 kh ng định đây là giấy ủy quyền của UBND x TP cho ông được ký hợp đồng.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm đ căn cứ khoản 6 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429, 584, 589, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH ngày 30 12 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, xử: Bác toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Phạm Văn T buộc UBND x TP phải bồi thường thiệt hại số tiền là 1.246.481.000đ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên đương sự phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/9/2020, ông Phạm Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu c u khởi kiện và yêu c u kháng cáo.

Các đương sự không th a thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể t khi thụ lý phúc thẩm cho đến ph n tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 13/2020/ST- D ngày 16 9 2020 của TAND huyện TD. Ông T phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn T nộp trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện đòi UBND xã TP và Thôn CĐ, xã TP phải bồi thường thiệt hại về vật chất và kinh tế t năm 2001 đến năm 2019 với số tiền là 1.246.481.000đ, sau đ thay đ i yêu c u khởi kiện chỉ buộc UBND xã TP phải bồi thường thiệt hại số tiền 1.246.481.000đ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là kiện đòi bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn yêu c u Tòa án buộc UBND x TP phải bồi thường số tiền 1.246.481.000đ nH không liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT và Hợp đồng kinh tế số 83 HĐKT, mà yêu c u bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đ , xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

. Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu c u UBND xã TP phải bồi thường 1.246.481.000đ, bao gồm tiền bồi thường thiệt hại liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT ngày 20/5/2004 do thôn CĐ ký với ông Phạm Văn T số tiền 853.481.000đ và 393.000.000đ liên quan đến công trình xây dựng mà ông T đ làm cho thôn CĐ trước đ và khoản tiền liên quan đến Công ty HH đ được Tòa án nhân dân huyện TD ra quyết định công nhận sự th a thuận của các đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự xuất trình đ xử bác toàn bộ yêu c u kiện của ông Phạm Văn T.

au khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/9/2020 ông Phạm Văn T kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì bản án sơ thẩm xử chưa khách quan, toàn diện gây thiệt thòi cho nguyên đơn.

Xét kháng cáo của ông Phạm Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Trong suốt quá trình tố tụng t khi khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nguyên đơn chỉ yêu c u UBND xã TP bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng liên quan đến việc thu hồi diện tích đất khu Đ, thôn CĐ, xã TP mà không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết tranh chấp về Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT ngày 20 5 2004 giữa đại diện Thôn CĐ và ông Phạm Văn T. Xem xét nội dung kháng cáo này của ông T thì thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đ tiến hành xác minh được ông Phan Văn T4 nguyên Chủ tịch UBND x TP) xác định Ủy ban chỉ đồng ý cho thôn CĐ đi tìm đối tác chứ không phải ủy quyền, tuy nhiên ông có ký vào Hợp đồng số 08 là để xác nhận chữ ký của các bên chứ ông không ký xác nhận nội dung của hợp đồng và UBND x không được chính quyền thôn CĐ bàn giao s sách liên quan đến dự án cải tạo khu Đ, thôn CĐ. Mặt khác, sau khi đại diện thôn CĐ ký hợp đồng với ông T thì c ng không c việc bàn giao mặt b ng khu đất. Ngoài ra, cấp sơ thẩm tiến hành xác minh những người c tên trong Hợp đồng số 08 HĐ-KT thì ông Đặng Công D (nguyên Trưởng x m 3, thôn CĐ), ông Đặng Công Đ Bí thư Chi bộ thôn CĐ) đều xác định các ông không c mặt và không tham gia ký hợp đồng. Các ông kh ng định ông T không thực hiện bất kỳ việc cải tạo nào đối với khu đất Đ; đối với ông Nguyễn Văn N5 (Kế toán HTX) c ng c tên trong hợp đồng số 08 ông không biết và không tham gia khi ký hợp đồng, ông c ng không biết UBND x c ủy quyền cho Thôn ký hợp đồng kể trên hay không. Về số tiền 1.870.800.000đ trong hợp đồng là tiền chủ đ u tư đ chi trả cho những người c đất bị thu hồi, còn số tiền đặt cọc thì ông không biết và không thu. Ông không biết biên bản bàn giao mặt b ng được lập ngày 25 3 2004. Đối với những phiếu thu tiền của thôn CĐ đối với ông Phạm Văn T, tại phiên tòa phúc thẩm ông ê Đắc T7 nguyên Trưởng thôn) trình bày Thôn đ chi trả cho những hộ dân c ruộng, ông không cung cấp được s sách, chứng t về việc sử dụng số tiền trên nên không có căn cứ buộc UBND x phải bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Văn T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án yêu c u nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nộp bản chính Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT ngày 20/5/2004 ký giữa thôn CĐ với ông T nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không giao nộp vì cho r ng nguyên đơn yêu c u bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chứ không yêu c u giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT.

Như vậy, ông Phạm Văn T không cung cấp được chứng cứ chứng minh c thiệt hại về kinh tế liên quan đến Hợp đồng kinh tế số 08 HĐ-KT nên Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu c u đòi bồi thường thiệt hại của ông T là c căn cứ pháp luật.

Đối với yêu c u bồi thường số tiền 393.000.000đ là số tiền liên quan đến các hợp đồng xây dựng nguyên đơn đ làm cho thôn CĐ. Theo nguyên đơn trình bày thì bị đơn là UBND x TP đ nhận nợ khoản tiền trên và việc này đ được Tòa án nhân dân huyện TD ra quyết định công nhận sự th a thuận của các đương sự số 03 2009 QĐ T-KT ngày 08 01 2009. Tuy nhiên, quyết định công nhận sự th a thuận của các đương sự này đ bị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh BN hủy theo Quyết định giám đốc thẩm số 02 2010 D -GĐT ngày 03 8 2010 của Tòa án nhân dân tỉnh BN. Mặt khác, người đại diện của UBND x TP thời điểm đ c ng không ký hợp đồng với ông T liên quan đến việc xây dựng kênh tưới và đường giao thông nông thôn mà ký với Công ty TNHH HH. Về nội dung này ông Nguyễn Văn H là Giám đốc Công ty TNHH HH c ng xác định không ủy quyền cho ông Phạm Văn T nghiệm thu công trình và không liên quan gì đến ông T. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp Hợp đồng kinh tế số 83 HĐKT ngày 25 02 2003 giữa đại diện bên giao th u là ông ê Đắc T7 - Trưởng thôn và bên nhận giao th u là ông Phạm Văn T , ông T không cung cấp được hồ sơ thanh quyết toán nên c ng chưa đủ cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường. Như vậy, không có căn cứ xác định thiệt hại của nguyên đơn nên bản án sơ thẩm xử bác yêu c u bồi thường thiệt hại đối với số tiền 393.000.000đ là c căn cứ pháp luật.

Như vậy, ông T không đưa ra căn cứ chứng minh cho yêu c u kháng cáo của mình, nên không c cơ sở chấp nhận.

. Về án phí: Ông Phạm Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 6 Điều 26; Điều 35, 39, 147, 148, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429, 584, 589, 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án, xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bác toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Phạm Văn T buộc Ủy ban nhân dân x TP phải bồi thường thiệt hại số tiền là 1.246.481.000đ.

Về án phí: ng Phạm Văn T phải chịu 49.394.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông Phạm Văn T đ nộp 21.483.000đ tại biên lai thu số 0000040 ngày 25/12/2019 và 5.356.000đ tại biên lai thu số 0000035 ngày 24 12 2019. ng Phạm Văn T còn phải nộp 22.555.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

ng Phạm Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông T đ nộp 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002544 ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TD.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ