vanban.org

Bản án 64/2021/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 30/09/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ch. Ranh gi i giữa thửa đ t 821, tờ bản đ số 5 do ông Nguyễn Văn T quản lý, sử dụng và thửa đ t 822, tờ bản đ số 5 của hộ bà Nguyễn Thị Ch (hiện nay là tờ 7) tại địa chỉ thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng là cạnh ph a Tây của phần diện t ch đ t tra… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị Ch - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/DS-PT
Ngày 30 - 9 - 2021
V/v “Tranh chấp ranh giới và
công nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng

Các Thẩm phán:

Bà Thái Thị Phi Yến

Bà Trần Thị Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Lương Thị Chung - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2021/TLPT - DS ngày 08 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp ranh giới và công nhận quyền sử dụng đất”;

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2021/QĐ-PT ngày 07 tháng 5 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2021; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 44/2021/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2021; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 130/2021/TB-TA ngày 15 tháng 7 năm 2021; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số: 137/2021/TB-TA ngày 19 tháng 7 năm 2021; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 151/2021/TB-TA ngày 06 tháng 9 năm 2021 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 49/2021/TB-TA ngày 14 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ch - Sinh năm: 1953 - Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo ủy quyền có ông Trần Trung Trự - Sinh năm: 1974 - Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Bà Ch và ông Trự có mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1969 - Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Văn Ta - Sinh năm: 1962 - Địa chỉ: 95 đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Văn Ng - Sinh năm: 1963 - Địa chỉ: 454/24 đường N, phường T, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

3/ Bà Nguyễn Thị An - Sinh năm: 1961 - Địa chỉ: Tổ 65 phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

* Người giám định: Trung tâm tài nguyên môi trường Đà Nẵng - Trụ sở: Tầng 5 Nhà làm việc các Ban quản lý dự án và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc, đường V, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Đại diện có ông Đỗ Anh Tu - Chức vụ: Đội trưởng Đội 3 Trung tâm tài nguyên môi trường Đà Nẵng. (Có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T là Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:

* Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2019 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch trình bày:

Gia đ nh tôi được UBND huyện Hòa Vang c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào sổ số 00939/QSDĐ ngày 09/12/1994 đối v i thửa đ t số 822, tờ bản đ số 05, diện t ch 450m2, mục đ ch sử dụng là đ t thổ cư lâu dài tại thôn 1, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đứng tên hộ bà Nguyễn Thị Ch. Lô đ t bà sử dụng có tứ cận như sau:

- Ph a đông giáp đường bê tông, dài 30,8m

- Ph a Tây giáp đ t ông Nguyễn Văn Tà, dài 30,2m

- Ph a Nam giáp nhà thờ tộc Nguyễn Vă, dài 13,2m

- Ph a Bắc giáp đường bê tông, dài 16,8m

Ranh gi i giữa đ t của bà và nhà ông Tà đã có tường rào cọc bê tông cố định từ trư c đường (cạnh ph a Bắc) ra sau cuối lô đ t áp sát cây dâu nhà ông Nguyễn Văn Sơ (cạnh ph a Nam); trong đó: Đoạn ph a trư c đã xây tường, đoạn ph a sau đã có hàng rào lư i B40 và trụ bê tông do ông Ta dựng lên từ r t lâu. Đến tháng 8/2018 khi gia đ nh tôi đổ gạch để xây dựng tường rào cố định th ông T tháo d cọc bê tông áp sát cây dâu ph a cuối lô đ t, tháo d hàng rào lư i B40 và cản trở không cho gia đ nh tôi xây dựng.

Bà C đã gửi đơn tranh ch p đề nghị xác định ranh gi i đ t đến UBND xã Hòa Tiến, ngày 16/8/2018 cán bộ địa ch nh xã Hòa Tiến đã đến kiểm tra, đo đạc thực tế hiện trạng các bên đang sử dụng nhưng ông Ta không ký biên bản đo đạc. Ngày 30/10/2018 UBND xã Hòa Tiến, tiến hành hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn T không đ ng ý đo đạc vườn nhà ông, ông yêu cầu bà C xây tường rào giáp m v i tường rào nhà thờ tộc Nguyễn V, ông T yêu cầu đo đ t bà C thiếu th ông trả lại.

Theo kết quả đo đạc của cán bộ địa ch nh xã Hòa Tiến th hiện trạng cạnh hư ng Nam của thửa đ t 822, tờ bản đ số 05 do gia đ nh bà C đang sử dụng (theo bờ rào có sẵn) là 13,4m, so v i sơ đ 64/CP là thừa 0,2m; tuy nhiên ông Nguyễn Văn T đã tháo d hàng rào ranh gi i và cản trở không cho gia đ nh bà C xây dựng mà yêu cầu gia đ nh bà phải lùi vào 1,4m ông T cho r ng đ t của gia đ nh ông qua đến phần đ t mà gia đ nh bà C đang sử dụng là 1,4m, nếu như vậy th thực tế cạnh ph a Nam thửa đ t của bà C chỉ còn 12m, thiếu 1,2m (so v i sơ đ c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t phải là 13,2m). Như vậy, bà C bị ông Nguyễn Văn T l n chiếm 1,2m cạnh ph a Nam.

Ngày 29/8/2018, UBND xã Hòa Tiến có Thông báo số 26/TB-UBND, theo đó bà C thống nh t l y đủ cạnh hư ng Nam là 13,2m theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p nhưng ông T không đ ng ý nên bà C khởi kiện đến Tòa án.

Để bảo đảm quyền lợi của gia đ nh tôi, tôi yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn T trả lại phần đ t l n chiếm là 18m2, chiều ngang ph a Nam là 1,2m và chiều dài là 32m dọc theo cạnh hư ng Tây giáp nhà ông T.

Tuy nhiên, sau khi chỉ đo đạc được thửa đ t 822 của tôi (ông T không cho đo đạc thửa đ t 821) th diện t ch đ t nhà tôi bị l n C có chiều ngang cạnh ph a nam 1,2m, chiều dài canh ph a tây dài 9,7m, tổng diện t ch là 11.64m2.

Quá tr nh hòa giải và tại phiên tòa, tôi thống nh t v i kết quả đo đạc và xác định phần đ t tranh ch p v i ông T có diện t ch 11,64m2; đ ng thời tôi yêu cầu ông T phải trả lại tôi diện t ch đ t như kết quả đo đạc.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá tr nh giải quyết vụ án có ý kiến tr nh bày như sau:

Thửa đ t 821, tờ bản đ số 05, diện t ch 490m2, mục đ ch sử dụng là đ t thổ cư lâu dài có Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số vào sổ 01069 ngày 09/12/1994 tại thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng do UBND huyện Hòa Vang c p cho hộ Nguyễn Thị A (t). Bà Nguyễn Thị A (t) có các con là ông Nguyễn Văn Ta, ông Nguyễn Văn Ng, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị An, Sau khi bà A chết ông T là người trực tiếp quản lý, sử dụng không liên quan g đến các anh chị em trong gia đ nh và họ s không tham gia tố tụng tại Tòa án. Hiện tại ranh gi i giữa nhà ông và nhà bà Ch là chưa xây nên không thể nói ông l n chiếm đ t của bà Ch, ông đề nghị bà C xây hàng rào th ng theo hàng rào của nhà thờ tộc Nguyễn Văn đã có sẵn, không được l n qua vị tr đ t mà bà Ch đang tranh ch p. Trư c đây có 01 trụ bê tông áp sát cây dâu bên đ t nhà ông Nguyễn Văn Sơ kéo lư i B40 đến trụ bê tông ph a sau nhà vệ sinh của ông T, sở dĩ ông rào như vậy là do c n bụi măng ngọt của nhà bà Ch. Nay bà Ch chặt b bụi măng nên ông tháo d trụ bê tông để chuyển ranh gi i về vị tr ban đầu.

Nay bà C yêu cầu Tòa án buộc tôi trả lại cho tôi phần đ t diện t ch 11,64m2 thì tôi không ch p nhận.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Ta, ông Nguyễn Văn Ng và bà Nguyễn Thị An được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

V i nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS - ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ: Điều 166, 170, 179, 203 của Luật Đ t đai năm 2013; Điều 147, 157, 161, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Tuyên bố: Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ch về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t” đối v i ông Nguyễn Văn T.

Xử:

1. Buộc ông Nguyễn Văn T trả lại cho bà Nguyễn Thị Ch diện t ch đ t là 11,64m2, có tứ cận như sau:

Phía Tây giáp nhà ông Nguyễn Văn T, dài 9,7m.

Ph a Đông giáp nhà bà Nguyễn Thị Ch dài 9,7m.

Ph a Nam giáp nhà thờ tộc Nguyễn Văn và đ t nhà ông Nguyễn Văn Sơ dài 1,2m.

Ph a Bắc giáp cọc bê tông áp sát da tường nhà vệ sinh của ông T. (Có sơ đ kèm theo)

2. Án ph dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Văn T phải chịu là 419.040đ. (Bốn trăm mười ch n ngàn không trăm bốn mươi đ ng).

3. Chi ph xem xét thẩm định tại chỗ và trưng cầu đo đạc bản đ là 4.046.000 đ ng, ông Nguyễn Văn T phải chịu, bà Nguyễn Thị Ch đã nộp tạm ứng và đã chi hết, ông Nguyễn Văn Ta phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Ch số tiền 4.046.000 đ ng.

4. Chi ph định giá 2.000.000 đ ng ông Nguyễn Văn T phải chịu, bà Nguyễn Thị Ch đã nộp tạm ứng và đã chi hết, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Ch số tiền 2.000.000 đ ng.

5. Chi ph đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng bà Nguyễn Thị Ch phải chịu. (Đã thu và chi xong).

6. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ch số tiền tạm ứng án ph 324.000đ đã nộp tại biên lai thu số 0002163 ngày 13/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, ông Nguyễn Văn T đề nghị Tòa án c p phúc xem xét bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn T có đơn đề nghị Tòa án trưng cầu Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng tiến hành đo đạc diện t ch đ t của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Ch và Tòa án đã trưng cầu Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng tiến hành đo đạc theo yêu cầu của đương sự.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo và để nghị HĐXX xác định ranh gi i giữa nhà bà C và nhà ông T, ông T không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ch.

- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ch cũng như bà C thống nh t v i kết quả định giá và không có ý kiến g thêm. Bà C yêu cầu Tòa án xác định ranh gi i giữa nhà bà C và nhà ông T, buộc ông T trả lại cho bà C phần đ t theo kết quả đo đạc v i diện t ch 16,4m2. Đối v i chi ph xem xét thẩm định tại chỗ và trưng cầu đo đạc bản đ là 4.046.000; chi ph thẩm định giá là 2.000.000đ đ ng bà C tự nguyện chịu.

- Đại diện Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng tr nh bày ý kiến và kh ng định kết quả đo đạc ngày 09/6/2021 là đúng quy định của pháp luật và hoàn toàn chính xác, Đại diện Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng xác định phần diện t ch đ t tranh ch p có chiều dài ph a Nam từ 1,10m đến 1,20m.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị An thông nh t v i ý kiến của ông Nguyễn Văn T và không trình bày gì thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và đề nghị HĐXX phúc thẩm tuyên: Ch p nhận một kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T; xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh ch p ranh gi i quyền sử dụng đ t”, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DSST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo hư ng, ranh gi i của thửa đ t 822 từ cạnh bắc đến cạnh Nam theo vị tr bà Nguyễn Thị Ch xác định (theo sơ đ vị tr thửa đ t do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường Đà Nẵng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai ông Nguyễn Văn Ta và ông Nguyễn Văn Ng đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông Ta vẫn vắng mặt còn ông Ng có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn Ta và ông Nguyễn Văn Na.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T cho r ng kết quả đo đạc của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng là chưa ch nh xác. HĐXX xét th y qua lời tr nh bày cũng như các căn cứ pháp luật mà Đại diện Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng đưa ra tại phiên tòa th kết quả đo đạc ngày 09/6/2021 là đúng v i thực tế nên khiếu nại của ông T là không có cơ sở.

Tại đơn khởi kiện Bà Nguyễn Thị Ch khởi kiện đề nghị ông Nguyễn Văn T trả lại phần diện t ch đ t khoảng 18m2 (chiều ngang 1,2m và chiều dài 32m), quá tr nh giải quyết ở c p sơ thẩm chỉ đo đạc được thửa đ t 822 của bà C (ông T không cho đo đạc thửa đ t 821) th diện t ch đ t nhà bà C bị l n chiếm có diện t ch là 11.64m2 nên bà C yêu cầu Tòa án buộc ông T trả lại phần diện t ch đ t này. Theo kết quả đo đạc đo đạc hai thửa đ t tại c p phúc thẩm th diện t ch đ t tranh ch p giữa hai nhà là 16,4m2 nên bà C căn cứ kết quả đo đạc yêu cầu ông T phải trả cho bà phần diện t ch đ t 16,4m2, HĐXX xét th y việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà C không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên ch p nhận việc thay đổi yêu cầu của bà C.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm ông T yêu cầu Tòa án:

- Bổ sung người tham gia tố tụng là UBND xã Hòa Tiến và Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Hòa Vang;

- Thu thập H sơ gốc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t và tiến hành đo đạc 04 thửa đ t 820, 821, 822 và 823 tờ bản đ số 5 tại thôn Yến Nê 1, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng;

- Thu thập Quyết định thu h i đ t đối v i hộ bà Nguyễn Thị Ch.

Xét yêu cầu của ông T th th y:

Đối v i yêu cầu thu thập Quyết định thu h i đ t đối v i hộ bà Nguyễn Thị Ch là cần thiết nên HĐXX đã tạm ngừng phiên tòa ngày 25/6/2021 để tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ và đã thu thập quyết định thu h i đ t số 568/QĐ-UBND ngày 08/3/2019 của UBND huyện Hòa Vang;

Đối v i yêu cầu bổ sung người tham gia tố tụng là UBND xã Hòa Tiến và Phòng tài nguyên và Môi trường huyện Hòa Vang; thu thập H sơ gốc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t và tiến hành đo đạc 04 thửa đ t 820, 821, 822 và 823 tờ bản đ số 5 tại thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, HĐXX th y vụ án chỉ giải quyết tranh ch p giữa bà C và ông T nên yêu cầu của ông T xét th y không cần thiết nên không ch p nhận.

* Về nội dung: Xét kháng cáo của ông T HĐXX th y:

Thửa đ t số 822, tờ bản đ số 5, v i diện t ch 450m2 tại thôn Yến Nê 1, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã được UBND huyện Hòa Vang c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã được vào sổ số 00939/QSDĐ ngày 09/12/1994 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị Ch.

Thửa đ t số 821, tờ bản đ số 5 tại thôn 1, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã được UBND huyện Hòa Vang c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã được vào sổ số 01069/QSDĐ ngày 09/12/1994 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị A (t) v i diện t ch 490m2, hiện nay do ông T trực tiếp quản lý, sử dụng.

Sau khi có kết quả đo đạc ngày 07/02/2020 UBND huyện Hòa Vang đã tiến hành thu h i diện t ch đ t 23,3m2 của hộ bà C theo quyết định thu h i đ t số 568/QĐ-UBND ngày 08/3/2019 của UBND huyện Hòa Vang. Đối chiếu v i kết quả đo đạc ngày 09/6/2021 th diện t ch đ t của bà C bị thu h i có chiều ngang ph a Nam là 0,74m.

Do các bên đương sự thống nh t v i ranh gi i ph a Bắc mà chỉ tranh ch p ph a sau thửa đ t nên theo kết quả đo đạc của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng ngày 09/6/2021 được thực hiện v i sự chứng kiến của bà C và ông T th diện t ch đ t tranh ch p giữa các đương sự là 16,4 m2 có chiều ngang ph a Nam như lời tr nh bày của Đại diện Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường Đà Nẵng tại phiên tòa là 1,10m đến 1,20m.

Đối v i thửa đ t số 822, tờ bản đ số 5 của hộ bà Nguyễn Thị Ch có diện t ch 455,9m2 (không kể diện t ch đ t tranh ch p) có chiều dài ph a Nam sau khi có quyết định thu h i đ t số 568/QĐ-UBND ngày 08/3/2019 của UBND huyện Hòa Vang là 11,26m.

Đối v i thửa đ t số 821, tờ bản đ số 5 hiện nay do ông T trực tiếp quản lý, sử dụng có diện t ch 558,7m2 (không kể diện t ch đ t tranh ch p) có chiều dài ph a Nam là 17,25m.

Theo sơ đ 64/CP th thửa đ t số 822, tờ bản đ số 5 của hộ bà Nguyễn Thị Ch sử dụng ph a Nam giáp nhà thờ tộc Nguyễn Văn có chiều ngang là 13,2m và thửa đ t số 821, tờ bản đ số 5 do ông T trực tiếp quản lý, sử dụng ph a Nam có chiều ngang là 16,4m.

Đối chiếu v i sơ đ 64/CP th hiện trạng thửa đ t số 822, tờ bản đ số 5 của hộ bà Nguyễn Thị Ch đang sử dụng có chiều ngang ph a Nam thiếu 1,20m nhưng diện t ch đ t biến động tăng 29,2m2.

Đối chiếu v i sơ đ 64/CP th hiện trạng thửa đ t số 821, tờ bản đ số 5 hiện nay do ông T trực tiếp quản lý, sử dụng có chiều ngang ph a Nam dư 0,85m có diện t ch đ t biến động tăng 68,7m2.

HĐXX xét th y tại thời điểm lập sơ đ 64/CP th đo đạc theo cách thức kéo thư c b ng tay nên có những sai số nh t định. So v i sơ đ 64/CP mặc dù k ch thư c, h nh thể các cạnh của hai thửa đ t 821 và 822 có thay đổi nhưng diện t ch đ t cùng biến động tăng. (thửa đ t 822 của bà C tăng 29,2m2 và thửa đ t 821 đang do ông T quản lý, sử dụng tăng 68,7m2). Tuy nhiên, chiều dài ph a Nam thửa đ t 821 (Chưa kể phần đ t tranh ch p) dư 0,85m còn chiều dài ph a Nam thửa đ t bà C đang sử dụng (Chưa kể phần đ t tranh ch p) thiếu 1,20m.

Mặt khác, tại Biên bản làm việc ngày 16/8/2018 của UBND xã Hòa Tiến cũng thể hiện số đo thực tế cạnh ph a Nam của thửa đ t số 822 là 13,4m; cạnh ph a Nam của thửa đ t số 821 là 17,1m, mặc dù số đo tại biên bản không được ông T ch p nhận nhưng thể hiện số đo thực tế của ch nh quyền địa phương phù hợp v i sơ đ 64/CP cũng như kết quả đo đạc của Trung tâm tài nguyên và môi trường Đà Nẵng.

Theo kết quả đo đạc ngày 09/6/2021 th chiều dài ph a Nam diện t ch đ t tranh ch p là 1,10m đến 1,20m đúng b ng chiều dài ph a Nam nhà bà C thiếu theo sơ đ 64/CP (1,20m) nên HĐXX có cơ sở xác định phần diện t ch đ t tranh ch p 16,4m2 thuộc quyền sử dụng của bà C.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà C và ông T cùng xác định phần diện t ch đ t đang tranh ch p 16,4m2 bà C sử dụng từ trư c đến nay và đề nghị Tòa án xác định ranh gi i giữa hai thửa đ t. HĐXX xét th y cần thiết phải xác định ranh gi i giữa hai thửa đ t 821 và 822, bà C yêu cầu ông T trả lại phần diện t ch đ t 16,4m2 là không đúng bởi l phần diện t ch đ t này bà C sử dụng từ trư c đến nay, nhưng để giải quyết triệt để vụ án cần công nhận cho bà Nguyễn Thị Ch được quyền sử dụng diện t ch đ t 16,4m2 là phù hợp.

Từ những nhận định trên, HĐXX ch p nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và sửa bản án sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo hư ng xác định ranh gi i giữa hai thửa đ t 822 và 821 là đường ranh gi i do bà C xác định là cạnh ph a Tây của phần diện t ch đ t tranh ch p 16,4m2 bao g m các đoạn th ng có chiều dài 19,29m; 4,18m và 8,08m như nhận định của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa và HĐXX công nhận cho bà Nguyễn Thị Ch được quyền sử dụng diện t ch đ t 16,4m2 (Có sơ đ kèm theo) là phù hợp.

Về án ph :

Về án ph dân sự sơ thẩm: Do HĐXX xác định ranh gi i giữa thửa đ t 822 và 821 và công nhận cho bà Nguyễn Thị Ch được quyền sử dụng diện t ch đ t 16,4m2 nên ông Nguyễn Văn T phải chịu án ph dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ.

Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ch số tiền tạm ứng án ph là 324.000đ theo biên lai thu số 0002163 ngày 13/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Về án ph dân sự phúc thẩm: Do ch p nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T nên ông Nguyễn Văn T không phải chịu án ph dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án ph là là 300.000đ theo biên lai thu số 0008107 ngày 17/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Về chi ph tố tụng:

Đối v i số tiền chi ph định giá tài sản 2.000.000 đ ng, chi ph xem xét thẩm định tại chỗ và trưng cầu đo đạc bản đ là 4.046.000 đ ng bà Nguyễn Thị Ch tự nguyện chịu (Đã nộp và đã chi xong). Xét sự tự nguyện của bà C không trái pháp luật nên ch p nhận.

Do ch p nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ch nên chi ph trưng cầu đo đạc theo yêu cầu của ông T là 4.536.000 đ ng ông Nguyễn Văn T phải chịu. (Đã nộp và chi xong).

Đối v i chi ph đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng bà Nguyễn Thị Ch phải chịu. (Đã nộp và chi xong).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 203 của Luật đất đai và Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 điều 26 và khoản 2 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Ch p nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Xử:

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ch.

1. Ranh gi i giữa thửa đ t 821, tờ bản đ số 5 do ông Nguyễn Văn T quản lý, sử dụng và thửa đ t 822, tờ bản đ số 5 của hộ bà Nguyễn Thị Ch (hiện nay là tờ 7) tại địa chỉ thôn 1, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng là cạnh ph a Tây của phần diện t ch đ t tranh ch p 16,4m2 bao g m các đoạn th ng có chiều dài 19,29m; 4,18m và 8,08m;

2. Công nhận cho hộ bà Nguyễn Thị Ch được quyền sử dụng diện t ch đ t 16,4m2 tại địa chỉ thôn 1, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

(Có sơ đồ vị trí thửa đất kèm theo)

Bà Nguyễn Thị Ch có quyền liên hệ v i Cơ quan nhà nư c có thẩm quyền để làm thủ tục c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho m nh.

3. Về án ph :

3.1 Về án ph dân sự sơ thẩm: Án ph dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Văn T phải chịu là 300.000đ.

Bà Nguyễn Thị Ch không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Ch số tiền tạm ứng án ph là 324.000đ theo biên lai thu số 0002163 ngày 13/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

3.2. Về án ph dân sự phúc thẩm: Án ph dân sự phúc thẩm ông Nguyễn Văn T không phải chịu.

Hoàn trả ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án ph là 300.000đ theo biên lai thu số 0008107 ngày 17/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

4. Về chi ph tố tụng:

4.1. Chi ph định giá tài sản 2.000.000 đ ng, chi ph xem xét thẩm định tại chỗ và trưng cầu đo đạc bản đ là 4.046.000 đ ng bà Nguyễn Thị Ch tự nguyện chịu (Đã nộp và đã chi xong).

4.2 Chi ph trưng cầu đo đạc theo yêu cầu của ông T là 4.536.000 đ ng ông Nguyễn Văn T phải chịu. (Đã nộp và chi xong).

4.3 Chi ph đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng bà Nguyễn Thị Ch phải chịu. (Đã nộp và chi xong).

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Cỡ chữ