vanban.org

Bản án 64/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 19/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo ĐTH phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt ĐTH 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐTH cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo ĐTH phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2020/HSST
Ngày: 19/6/2020
NNhh©©nn ddaannhh

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP H NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 59/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HS ngày 01/6/2020 đối với bị cáo:

ĐTH, sinh năm 1987

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông và bà; vợ: và có 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015); Danh chỉ bản số 178 lập ngày 10/3/2020 tại Công an huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/03/2020 đến ngày 09/03/2020.

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa

* Người bị hại: Anh HHT, sinh năm 1984.

Trú tại: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Có đơn xin vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Bà HTK, sinh năm 1966. Vắng mặt

2. Ông TBT1, sinh năm 1965. Vắng mặt

3. Chị TTV, sinh năm 1972. Vắng mặt

4. Anh TBT2, sinh năm 1972. Vắng mặt

Cư trú tại: huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 31/7/2019, anh HHT điều khiển xe ôtô taxi biển kiểm soát 30A - 080.70 đến nhà bà HTK (dì ruột của anh T) ở huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội chơi. Khi đến nhà bà K, anh T đỗ xe taxi vào sát lề đường đối diện với cổng nhà bà K rồi đi vào nhà bà K chơi. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, ĐTH cùng em trai ĐTH1 điều khiển xe ôtô tải Huyndai 110S loại 3,6 tấn, biển kiểm soát 29H -266.71, trên thùng xe có chở gà từ nhà văn hóa xóm Nội An, xã Đại Yên đi ra đường tỉnh lộ 419 để đến điểm giao gà cho khách hàng. Do đường hẹp, lại có xe ôtô taxi của T dừng đỗ ở phía trước, cùng chiều, nên khi H điều khiển xe ôtô đi qua thì không đủ khoảng trống đi qua. H ngồi trong xe ôtô bấm còi liên tục, mục đích thông báo cho anh T biết để đỗ xe gọn lại cho xe của H đi qua. Khi đó anh T đang ở trong nhà bà K nghe thấy tiếng còi ôtô, chạy ra để lái xe ôtô taxi của anh T tránh cho xe của H đi qua. Khi ra, anh T có nói: “Các anh chờ em một chút”. Khi anh T vừa nói dứt lời, thì H1 chửi anh T “Đ.mẹ, nhanh lên không gà tao chết”. Nghe H1 chửi, anh T mở cửa xe, vào trong xe ô tô của mình để nổ máy và có lời qua tiếng lại với H1, khi vào trong xe ôtô, anh T hạ kính xe ôtô và nói tiếp “Các anh chờ em tí, nhanh chậm gì mấy phút”. Khi nghe thấy T nói vậy, H1 xuống xe, chạy đến chỗ xe ôtô của anh T, dùng tay trái túm tóc anh T, lôi anh T từ trong xe ôtô taxi ra và dùng tay phải đấm liên tiếp 3,4 cái vào vùng mặt anh T. Nghe thấy tiếng xô xát, cãi chửi nhau, bà K và ông TBT1 (chồng bà K) chạy từ trong nhà ra can ngăn H1 không cho đánh T, lúc này H cũng mở cửa xe ôtô tải của H và xuống xe chạy đến chỗ anh T dùng tay phải đấm liên tiếp 2-3 cái trúng vào vùng mặt của anh T và đấm 01 cái vào vùng cổ của anh T, H1 tiếp tục xông đến dùng tay đấm 3,4 cái nữa, dùng chân đá 01 cái vào vùng mặt của anh T, làm anh T bị thương tích, chảy nhiều máu ở vùng mũi, miệng. Bà K và ông T1 xông vào can ngăn, đẩy H và H1 ra, không cho đánh anh T nữa. Được ông T1 và bà K can ngăn, nên H1 và H không đánh T nữa, H đi đến xe ôtô của T đang đỗ, điều khiển xe của anh T đi vào trong sân nhà bà K, để tránh cho xe ôtô của H đi qua. Do T bị thương tích ở vùng mặt nên ông T1 đưa anh T đến cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 103, quận H Đông, Thành phố Hà Nội.

Hậu quả: Anh HHT bị gãy xương gò má xung tiếp, gãy xương chính mũi phải, gãy phức tạp xương hàm mặt, vỡ rạn xương trán, phải điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ ngày 31/7/2019 đến ngày 16/8/2019.

Kết luận giám định pháp y số 5090/C09-TT1, ngày 21/10/2019 của Viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Sẹo vết thương vùng sống mũi, bên phải không ảnh hưởng chức năng, thẩm mỹ: 01% .

- 03 sẹo phẫu thuật vùng cung mày phải, mi dưới mắt phải và tiền đình lợi hàm trên bên phải không ảnh hưởng chức năng, thẩm mỹ: mỗi sẹo: 01%.

- Vỡ phức tạp thành ổ mắt phải đã kết xương, không ảnh hưởng thị lực: 06%.

- Gãy xương chính mũi không ảnh hưởng chức năng thở, ngửi: 09%.

- Gãy cung tiếp gò mà phải can tốt, không ảnh hưởng chức năng: 09%.

- Vỡ phức tạp xoang hàm phải, đã kết xương: 18%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của HHT là 39%. Các tổn thương vùng hàm mặt do vật tày tác động gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ĐTH và ĐTH1 đã bồi thường cho anh HHT số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Anh T không yêu cầu bồi thường thêm gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho ĐTH.

Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 24/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố ĐTH về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo ĐTH khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng đã quy kết, bị cáo thừa nhận thương tích của anh HHT là do bị cáo và em trai là ĐTH1 gây nên.

- Người bị hại là anh HHT có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình điều tra là xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo ĐTH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị: Xử phạt ĐTH từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét do các bên đã thỏa thuận bồi thường xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại và người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định pháp y, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người bị hại là anh HHT: Anh HHT có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo ĐTH, anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên việc vắng mặt của anh HHT không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

. Về nội dung:

. Tại phiên tòa, bị cáo ĐTH khai nhận hành vi gây thương tích cho anh HHT ngày 31/7/2019 và thừa nhận thương tích của anh HHT là do bị cáo và em trai là ĐTH1 gây nên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/07/2019, tại huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, khi anh HHT đỗ xe ôtô taxi biển kiểm soát 30A - 080.70 cản trở lối đi làm cho xe ôtô tải của anh em ĐTH và ĐTH1 không đi qua được, hai bên đã lời qua tiếng lại cãi chửi nhau, H và H1 đã có hành vi dung tay, chân đấm đá anh HHT, trong đó ĐTH đã có hành vi dùng tay đấm 2-3 cái vào vùng mặt, đấm 01 cái vào vùng cổ anh T gây thương tích cho anh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39%.

Hành vi dùng tay, chân gây thương tích cho anh HHT với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39% mà ĐTH cùng em trai là ĐTH1 thực hiện đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung“Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo ĐTH về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tổn hại về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi gây thương tích cho anh HHT, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, bị cáo cùng với ĐTH1 đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho anh HHT số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), anh HHT đã nhận khoản tiền bồi thường, các bên đã tự nguyện hòa giải, anh HHT đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và người bị hại là anh HHT đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường, anh HHT không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác nên không xem xét trách nhiệm bồi thường.

Đối với ĐTH1: ĐTH1 là người chửi anh HHT và xuống xe trước, túm tóc lôi anh T từ trong xe ra ngoài, trực tiếp dùng chân, tay đấm đá vào mặt anh T, gây thương tích cho anh T với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39%. Hành vi trên của H1 đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra vụ án, bà NTT3 là mẹ đẻ của H1 cung cấp cho Cơ quan điều tra hồ sơ bệnh án của H1 có tiểu sử bệnh tâm thần từ trước khi H1 và H gây ra vụ án này. Ngày 07/4/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định pháp y tâm thần đối với ĐTH1. Đến nay, Viện Pháp y tâm thần Trung ương đang làm thủ tục tiếp nhận để giám định nên chưa có kết quả. Cơ quan điều tra đang chờ kết luận giám định của Viện Pháp y tâm thần Trung ương để làm căn cứ xử lý đối với H1. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự, tách tài liệu liên quan đến ĐTH1 gây thương tích cho anh HHT và ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, khi có kết luận sẽ xử lý đối với H1 là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo ĐTH phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo ĐTH phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt ĐTH 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo ĐTH cho Ủy ban nhân dân xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo ĐTH có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo ĐTH.

Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu ĐTH cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ĐTH phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về án phí: Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc ĐTH phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ Bị cáo ĐTH có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Người bị hại là anh HHT có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ