vanban.org

Bản án 64/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 09/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh : Bị cáo Trương Văn H và Trương Văn M, phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

Về mức hình phạt: Xử phạt b ị cáo Trương Văn H: 18 (Mư ời tám) tháng tù. Thời hạn chấp h Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh : Bị cáo Trương Văn H và Trương Văn M, phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h ình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng h ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TR
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 64/2020/HS-ST
Ngày: 09/9/2020

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘ I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TR, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ký

2. Ông Trần Ngọc Châu

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn

- Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Tr, tỉnh Thanh Hoá .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Tr, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Thảnh - Kiểm sát vi ên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện H à Tr, tỉnh Thanh Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 59/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2020, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 70/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2020 đối vớ i các bị cáo :

1/ Trương Văn

H, sinh năm 1986; Tại: xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú : Thôn Y, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: L ao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; Chưa có vợ; Tiền sự : Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 25/11/2015 bị T òa án nhân dân TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh B ình xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ”, chấp h ành xong hình phạt t ù ngày 30/4/2017. Bị cáo bị bắt t ạm giữ từ ng ày 16/6/2020 đến ng ày 25/6/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Trương Văn

M, sinh năm 1990; Tại: x ã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: T hôn Th, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông

Trương Văn S và bà Vũ Thị D ; Chưa c ó vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng

ày 16/6/2020 đến ng ày 25/6/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Bị hại : Anh Đỗ H ùng Tr - Sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn Tr, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa . (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ng ày 13/6/2020, Trương Văn M đi xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exiter, BK S:36B4-965.63 chở phía sau Tr ương Văn H đi từ nh à mình đến trang trại nh à anh Nguyễn Văn D ở thôn Tr Chính, xã Hoạt Giang, huyện H à Tr để ch ơi, u ống n ư ớc , cùng đến nh à anh D còn có anh Đỗ Hùng Tr, Nguyễn M Đ. Sau khi đến nh à anh D đư ợc một lúc th ì Trương Văn H hỏi mư ợn anh Tr 100.000đ thì anh Tr đồng ý. Lúc n ày anh Tr ra vị trí chiếc xe máy của m ình là chiếc xe nh ãn hiệu Vision, BKS: 36B4 -77277, mở cốp xe máy lấy v

à đưa cho H 100.000đ rồi để ví v ào trong cốp xe máy sau đó đi v ào nhà anh D ngồi uống n ư ớc nói chuyện. Quá trình anh Tr mở cốp xe lấy tiền cho

H vay thì H nảy sinh ý định trộm cắp t ài sản l à chiếc ví của anh Tr để lấy tiền ti êu xài. Sau khi anh Tr đi vào nhà anh D thì H đi đến vị trí chiếc xe của anh

Tr rồi d ùng tay móc vào trong cốp xe máy của anh Tr lấy đ ư ợc chiếc ví da m àu nâu. Khi H đang thực hiện hành vi trộm cắp t ài sản th ì M ra sân và nhìn thấy h ành vi trộm cắp t ài sản của H nhưng M không phản ứng g ì. Sau khi H lấy đ ư ợc chiếc ví th ì M đi ra ngoài ngõ cùng H và kiểm tra t ài sản trong ví th ì phát hiện có số tiền 200.000đ , cùng 01 thẻ ngân hàng Viettinbank, 01 căn cư ớc công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang t

ên Đỗ H ùng Tr. Lúc này, M và H bàn với nhau đem thẻ ngân h àng của anh Tr ra cây ATM ở thị x ã Bỉm S ơn đ ể kiểm tra xem có tiền trong thẻ hay không để rút trộm tiền v à sử dụng ng ày tháng năm sinh trên căn cư ớc công dân của anh Tr làm mật khẩu. Rồi M điều khiển xe máy BKS: 36B4 -965.63, chở H ngồi ở phía sau đi đến cây ATM của Ngân h àng Viettin bank ở khu vực ng ã tư năm t ầng thuộc ph ư ờng Đông Sơn, th ị x ã Bỉm S ơn, t ỉnh Thanh Hóa để kiểm tra thẻ. Sau khi

M cầm thẻ đi vào cây ATM và đưa th ẻ v ào cây ATM, H ở phía sau đọc mật khẩu cho

M là ngày tháng năm sinh của anh Tr “071293” thì mở đ ư ợc mật khẩu.

M và H kiểm tra t ài khoản th ì phát hiện số tiền có trong t ài khoản ngân h àng của anh Tr có hơn 16 tri ệu đồng. Lúc n ày H bảo M không rút tiền ở đây m à đợi th êm một lúc để xem t ình hình thế n ào, xem việc H lấy trộm chiếc ví củ

a anh Tr, anh Tr đã biết ch ưa đ ể đối phó. Rồi H bảo M chạy xe quanh khu vực thị x ã Bỉm S ơn, đ ến khoảng 23 giờ 30 phút H bảo M đi rút tiền, khi đó cả hai đi đến cây ATM tr ư ớc cửa Ngân h àng Viettin Bank Chi nhánh Bỉm S ơn thu ộc ph ư ờng Ba Đ ình, thị x ã Bỉm S ơn, t ỉnh Thanh Hóa. M cầm thẻ đi v ào cây ATM, H đứng phía sau, M nhập mật khẩu rồi rút 5.000.000đ, khi M rút số tiền nói tr ên thì hệ thống ngân h àng gửi tin nhắn đến số thuê bao của anh Tr thì lúc này anh Tr mới kiểm tra cố

p xe và phát hiện bị mất trộm chiếc ví da. Lúc n ày M tiếp tục rút th êm số tiền: 5.000.000đ trong thẻ Ngân hàng thì anh Tr gọi điện cho Ngân h àng và yêu cầu khóa thẻ t ài khoản. M và H tiếp tục rút lần thứ 3 nh

ưng lúc này tài kho ản Ngân h àng đã bị khóa n ên không rút đư ợc tiền. Sau khi rút số tiề n 10.000.000đ, nghĩ l à cây ATM hỏng n ên M và H tiếp tục điều khiển xe máy đến cây ATM của N

gân hàng SacomBank trư ớc cổng công ty VEAM thuộc ph ư ờng Bắc S ơn, Th ị x ã Bỉm S ơn, t ỉnh Thanh Hóa để tiếp tục r

út số tiền c òn lại nh ưng khi đưa th ẻ v ào thì bị Ngân h àng giữ lại thẻ (cây ATM tự động nút thẻ) v à không rút đư ợc tiền. Sau đó, M và H điều khiển xe máy để đi về nh

à ở xã Hoạt Giang, huyện H à Tr, tỉnh Thanh Hóa, khi đi đến khu vực Cầu mới thuộc đị a phận Ph ư ờng Phú S ơn, th ị x ã Bỉm S ơn th ì cả hai b àn nhau cất giấu chiếc ví để tránh bị phát hiện. Khi đó, M đứng ở tr ên đê sông Tam Điệp c òn H bỏ chiếc ví v ào trong túi Nilong (loại túi bim bim đ ã dùng) rồi giấu ở bụi cây. Sau đó cả hai ra Bỉm Sơn ă n uống, hát Karaoke hết 3.400.000đ, số tiền c

òn lại M và H chia nhau mỗi ngư ời 3.400.000đ rồi cả hai đi về nh

à. Đến ng ày 16/6/2020 Trương Văn H đã đến Công an huyện H à Tr đầu thú v à khai nhận h ành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản ngày 23/6/2020, Hội đồng định giá t ài sản trong Tố tụng h ình sự huyện H à Tr đã kết luận: 01 chiếc ví da m àu nâu mà H trộm cắp có giá trị l à 20.000đồng .

Tại bản cáo trạng số

69/CT-VKS-HT ngày 10/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Tr, tỉnh Tha nh Hoá đã truy tố Trương Văn H và Trương Văn M về tội “Trộm cắp t

ài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h

ình sự.

Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H

à Tr giữ nguy ên quyết đ ịnh truy tố v à đề nghị áp dụng : Khoản 1 Điều 173, điểm b, s (điểm i đối với M) khoản 1 , (khoản 2 đối với H) Điều 51 ; Điều 17; Điều 38 Bộ luật h ình sự, xử phạt Trương Văn

H từ 12 tháng đến 15 tháng tù; xử phạt Trương Văn

M từ 06 tháng đến 09 tháng tù; về vật chứng tịch thu

tiêu hủy chiếc 01 quần đ ùi, 01 áo phông, 02 chiếc dép m àu trắng, 02 chiếc dép m àu đem, bị hại không y êu cầu n ên các bị cáo không phải bồi th ư ờng dân sự và không áp dụng h ình phạt bổ sung l à tiền đối với

các bị cáo.

Các bị cáo biết h ành vi phạm tội của m

ình là vi phạm phát luật, n ên đề nghị xem xét giảm nhẹ h ình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh

ư sau:

[1]. Về h ành vi, quyết địn h tố tụng của C

ơ quan đi ều tra huyện H à Tr, Điều tra viên; Viện Kiểm sát huyện H à Tr, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự thủ tục

và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng h

ình sự . Quá trình điều tra , truy tố và tại phi ên tòa, bị cáo v à những ngư ời tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về h

ành vi, quyết định của Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về h ành vi phạm tội của bị cáo: Tại phi

ên tòa, bị cáo trương Văn H và Trương Văn M đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m

ình đúng như cáo tr ạng Viện kiểm sát truy tố

. Đối chiếu lời khai nhận của

các bị cáo với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s

ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử

có đủ c ơ s ở kết luận : Khoảng 21 giờ ng ày 13/6/2020, tại nh à anh Nguyễn Văn D ở thôn Tr Chính, xã Hoạt Giang, huyện H à Tr. Trương Văn H đã trộm cắp t ài sản của anh Đỗ H

ùng Tr 01 ví da bên trong có 200.000đồng, 01 thẻ ATM do Ngân hàng Viettin bank phát hành trong thẻ có 16.342.867đồng ; 01 giấy phép lái xe; 01 căn cư ớc công dân mang t ên Đỗ H ùng Tr và cùng Trương Văn M đến cây ATM trư ớc cửa ngân h àng Viettinbank chi nhánh Bỉm S ơn thu ộc ph ư ờng Ba Đình, thị x ã Bỉm S ơn, t ỉn h Thanh Hóa rút đư ợc 10.000.000 đồng (M ư ời triệu đồng), khi các bị c áo đang tiếp tục rút th ì tài khoản bị khóa n ên không tiếp tục thực hiện đ ư ợc h ành vi trộm cắp. N ên tổng số tiền

H và M phải chịu trách nhiệm h ình sự l à: 16.562.867đồng. Như v ậy h ành của các bị cáo đ ã phạm v ào tội “Trộm cắp tài sản”.

[3]. Về tính chất, mức độ nghi

êm trọng của h ành vi phạm tội :

Quyền sở hữu t

ài sản luôn đ ư ợc pháp luật bảo vệ nh

ư ng H và M đã không bỏ sức lao động chân chính để có đ

ư ợc, lợi dụng

ban đêm, anh Tr không quản lý trông coi tài sản n ên H đã lén lút trộm cắp 01 ví da bên trong có tiền, thẻ ngân hàng, sau đó cùng M đi rút tiền nhằm mục đích chi ti êu cá nhân. Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo l à nguy hiểm , táo tợn, gây hoang mang tâm lý trong nhân dân và gây mất trật tự x

ã hội n ên cần phải đ ư ợc xử lý nghi êm nhằm răn đe, giáo dục v à phòng ngừa chung.

Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện h

ành vi phạm tội nh ưng không có sự câu kết chặt chẽ n

ên chỉ l à đồng phạm giản đ ơn. H là ngư ời trực tiếp trộm chiếc ví, M biết H trộm cắp ví, nên cả hai đều thống nhất đi rút tiền trong thẻ ATM

, cả H và M đều trực tiếp thực hiện

việc rút tiền . Nên mức h ình phạt H cao hơn M.

[4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự:

Cả hai bị cáo không phải chịu t

ình tiết tăn g nặng trách nhiệm h ình sự n ào.

Đối với H, nhân thân bị cáo vào ngày 25/11/2015 bị T òa án nhân dân TP. Tam Điệp , tỉnh Ninh B ình xử phạt 24 tháng t ù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp h ành xong hình phạt t ù ngày 30/4/2017. Nay đã đư ợc xóa án tích, đây thể hiện việc không chịu tu d

ư ỡng bản thân, xem th ư ờng pháp luật, n ên cần xem xét khi quyết định h ình phạt .

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phi ên tòa các bị cáo th ành khẩn khai báo, đối với H sau khi phạm tội đ ã đầu thú , đối với M phạm tội lần đầu v

à thuộc trư ờng hợp ít nghi êm trọng , số tiền các bị cáo trộm cắp đ

ã đư ợc gia đ ình trả to àn bộ cho anh Tr và tại phi ên tòa anh Tr xin giảm nhẹ h ình phạt cho cả hai bị cáo . Nên cần áp dụng điểm

s (điểm i đối với

M) khoản 1 , khoản 2 Điều 51 Bộ luật h ình sự để giảm nhẹ một phần h

ình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy đ

ư ợc sự khoan hồng của ph áp luật.

Căn cứ v ào nhân thân, mức độ nguy hiểm

của tội phạm. N

ên cần xử cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng x

ã hội một thời gian để cải tạo giáo dục l

à cần thiết.

[5]. Về h ình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền . Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ v

à lời khai của các bị cáo tại phi ên tòa đều cho thấy, các bị cáo l à lao động tự do, không có thu nhập , không có tài sản ri êng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng h ình phạt bổ su ng là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự :

Đối với số tiền các bị cáo chiếm đoạt.

Trong quá trình điều tra mẹ của Trương Văn

M và mẹ của Tr ương Văn

H đã tự nguyện giao nộp ch

ơ Cơ quan CSĐT số tiền: 10.200.000đ. Anh Tr có đơn xin nhận lại t ài sản hợp pháp của m

ình nên Cơ quan CSĐT Công an huy ện H à Tr đã trả lại cho anh Đỗ H ùng Tr: 01 chiếc ví da màu nâu; 01 thẻ ngân h àng Viettin bank; 01 giấy phép lái xe; 01 căn c ư ớc công dân và 01 vỏ sim điện thoại Vietnambobile, số tiền

: 10.200.000đồng. Sau khi nhận lại t ài sản anh Tr không có ý kiến, thắc mắc g ì thêm và không yêu cầu bồi thư ờng g ì thêm. Nên miễn xét.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B4

-96563 mà Trương Văn H và Trương Văn M sử dụng l àm phươn g tiện thực hiện h

ành vi phạm tội l à chiếc xe m à M mư ợn của bố đẻ l

à ông Trương Văn S . Ông S không biết M sử dụng v ào việc phạm tội.

Cơ quan CSĐT Công an huy ện H à Tr đã trả lại chiếc xe máy cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Trương Văn S là chính xác.

Đối với: 01 Quần đ ùi màu đen, dài 40cm, đai quần m àu vàng rộ ng 30cm; 01 Áo phông màu đen, đã qua sử dụng, tr ư ớc ngực áo v à phía sau áo in hình con hổ, mặt trong áo tr ơn, không in h ình, dài 57cm, rộ ng 40cm; 02 Chiếc dép m àu trắng, loại dép tổ ong, đ ã qua sử dụng, c ùng chủng loại, có c ùng kích thư ớc, d ài 25cm, phần rộng nhất của mỗi chiế

c dép là 10cm; 02 Chiếc dép m àu đen, đã qua sử dụng, cùng chủng loại, có c ùng kích thư ớc, d ài 24cm, phần rộng nhất của mỗi chiế

c dép là 10cm. Đây là tài sản các bị cáo sử dụng tr ên ngư ời khi thực hiện phạm tội, C

ơ qua điều tra thu giữ để đối chiếu h

ình ảnh nhận dạng tại cây ATM. Hiện nay đ

ã cũ không còn giá trị sử dụng, n ên cần tịch thu ti êu hủy.

[8]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp lu ật.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ v ào: Khoản 1 Điều 173; điểm s (điểm i cho M) khoản 1 , khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật h

ình sự.

- Về tội danh : Bị cáo Trương Văn H và Trương Văn M, phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

- Về mức hình phạt:

Xử phạt b ị cáo Trương Văn H: 18 (Mư ời tám) tháng tù. Thời hạn chấp h

ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 16 /6/2020.

Xử phạt b ị cáo Trương Văn M: 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 16/6/2020.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h

ình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng h

ình sự;

Tịch thu ti êu huỷ 01 Quần đ ùi màu đen, dài 40cm, đai quần m àu vàng rộ ng 30cm; 01 Áo phông màu đen, đã qua sử dụng, tr ư ớc ngực áo v à phía sau áo in hình con hổ, mặt trong áo tr ơn, không in h ình, dài 57cm, rộ ng 40cm; 02 Chiếc dép m àu trắng, loại dép tổ ong, đ ã qua sử dụng, c ùng chủng loại, có c ùng kích thư ớc, d ài 25cm, phần rộng nhất của mỗi chiế

c dép là 10cm; 02 Chiếc dép m àu đen, đã qua sử dụng, c ùng chủng loại, có cùng kích thư ớc, d ài 24cm, phần rộng nhất của mỗi chiếc dép l à 10cm. (Hiện đang đ ư ợc l ưu gi ữ tại Chi cục thi h

ành án huyện H à Tr theo biên bản giao nhận ng ày 26/8/2020).

- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h

ình sự; khoản 1 Điều 21 , điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng

ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội, buộc bị cáo

Trương Văn

H và Trương Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí h ình sự s ơ th ẩm.

Trư ờng hợp bản án đ ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luậ t thi hành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật thi h ành án dân sự. Thời hiệu thi h

ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật th

i hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo , bị hại có quyền kháng cáo bản án n ày trong hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.

Cỡ chữ