- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hiệp dũng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28/4/2020 V/v tranh chấp "Xin Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trung Nhân
2. Ông Nguyễn Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 882/2019/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2019 về việc tranh chấp “Xin Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm: 1974.
Địa chỉ: p 03, x , huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1977.
Địa chỉ: p 03, x T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Chị H có mặt tại phiên tòa; anh D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 10/12/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, không đăng ký kết hôn. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến tháng 05/2019 thì phát sinh mâu thuẫn và đến tháng 10/2019 tự cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay. Nguyên nhân vợ chồng không hợp tính tình, anh D thường xuyên cờ bạc gây nợ nần nên vợ chồng mất hạnh phúc. Nay chị yêu cầu xin ly hôn với anh D.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Tại Tờ tự khai không đề ngày tháng năm, bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày: Về quá trình hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung như chị H trình bày là đúng. Theo anh, mâu thuẫn vợ chồng không có gì lớn nên anh không đồng ý ly hôn vì anh còn thương vợ.
Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên; Anh D vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
1.1. Về việc v ng m t c a đương s : Xét thấy, anh Nguyễn Văn D là bị đơn đ được Toà án triệu tập hợp lệ để xét xử việc chị H xin ly hôn anh đến lần thứ hai, nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc hôn nhân của chị và anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn trong vụ án có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
1.3. Về quan hệ tranh chấp: Chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh D nên xác định đây là tranh chấp Ly hôn theo quy định tại Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình.
. Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới về anh chị chung sống hạnh phúc tháng 05/2019 thì phát sinh mâu thuẫn và đến tháng 10/2019 tự cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, anh D thường xuyên cờ bạc gây nợ nần nên vợ chồng mất hạnh phúc. Còn anh D thì cho rằng vợ chồng mâu thuẫn không lớn. Tuy nhiên trong quá trình sống chung anh chị không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014. Do anh chị không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mai Thị H và anh Nguyễn Văn D.
2.2. Về con chung: Không có.
2.3. Về tài sản chung: Không có.
2.4. Về nợ chung: Không có.
. Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh D được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
- Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mai Thị H và anh Nguyễn Văn D.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có .
5. Về án phí:
- Chị H chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đ nộp theo biên lai thu số 0002894 ngày 23/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, nên xem như chị H đ thi hành xong phần án phí.
6. Về quyền kháng cáo:
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Anh D được tính từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - V - VKSND huyện Cái Bè; - CCTH DS huyện Cái Bè; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM VĂN NHỊN |