- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/HS-ST Ngày: 28/01/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH Đ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan.
Ông Nguyễn Thái Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Điểu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ. Sinh năm 1998. Tại: An Giang. Nơi đăng ký HKTT: ấp T, thị trấn N, huyện T, tỉnh A. Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã H, thành phố B, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: lớp 03/12. Họ tên cha: Phạm Văn T, sinh năm 1976. Họ tên mẹ: Trần Thị D, sinh năm 1977. Gia đình c 04 chị em, bị cáo là con th 02 trong gia đình và chưa c v , con.
Tiền án: Ngày 27/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 06/4/2012, bị UBND thành phố B, tỉnh Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo quyết định số 1498/QĐ-UBND ngày 06/4/2012.
- Ngày 22/12/2015, bị Công an thành phố B, tỉnh Đ xử phạt 750.000 đồng (bảy trăm năm mười nghìn đồng) về hành vi “trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 414 ngày 22/12/2015.
- Ngày 22/02/2016, bị Công an thành phố B, tỉnh Đ xử phạt 750.000 đồng (bảy trăm năm mười nghìn đồng) về hành vi “trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 10 ngày 22/02/2016.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 23/10/2018, chuyển tạm giam theo lệnh số: 549 ngày 31/10/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Bị cáo c mặt.
- Người bị hại: Chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ 13A, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Đ. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:
Phạm Văn Đ là đối tư ng c tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, để c tiền tiêu xài, Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ ngày 23 tháng 10 năm 2018, Đ đi bộ một mình từ ấp A, xã H, thành phố B đến ấp B, xã H, thành phố B xem ai có tài sản sơ hở thì sẽ trộm cắp. Khi đi ngang qua quán cà phê “Cát Bụi” địa chỉ: tổ 13, ấp B, xã H, thành phố B do chị Nguyễn Kim H, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú xã Thanh L i, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh S c Trăng làm chủ. Đ nhìn thấy cửa quán mở nên đột nhập vào bên trong quán tìm tài sản để lấy trộm. Đ nhìn thấy chị H đang nằm ngủ dưới nền nhà, bên cạnh để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy C9pro nên đi đến lấy trộm. Khi Đ đang khom người để lấy chiếc điện thoại thì bị chị H phát hiện truy hô nên Đ bỏ chạy khoảng 200m thì bị chị H cùng anh Nguyễn Long Quốc T, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương bắt giữ Đ giao cho Công an xã H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.
* Vật ch ng của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy C9pro là tài sản của chị Nguyễn Kim H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị H.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 389/TCKH-HĐĐG ngày 07/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy C9pro c giá trị định giá là 6.993.000 đồng (sáu triệu chín trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Về dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Kim H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Tại cáo trạng số: 37/CT/VKS-HS ngày 10 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố Phạm Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo với m c án từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Bị cáo Đ không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong phần bị cáo n i lời sau cùng: bị cáo xin Hội dồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không c ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều h p pháp.
Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:
Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Đ đã khai nhận: Vào khoảng 03 giờ ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại quán cà phê “Cát Bụi” địa chỉ tổ 13, ấp B, xã H, thành phố B, Phạm Văn Đ đã c hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Kim H 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy C9pro, trị giá 6.993.000 đồng (sáu triệu chín trăm chín mươi ba nghìn đồng) thì bị phát hiện bắt quả tang, chuyển điều tra xử lý.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa là thống nhất, phù h p nhau và phù h p với lời khai của người bị hại, người làm ch ng, vật ch ng và các tài liệu ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, c đủ căn c xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 173; Điều 15 Bộ luật hình sự 2015, đư c sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng lại tiếp tục phạm tội nên phạm vào tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đư c sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đ cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đư c sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tính chất m c độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân đư c pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo c nhân thân xấu; c 01 tiền án chưa đư c x a án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng là “tái phạm”, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Do đ , cần cho bị cáo một m c án nghiêm tương x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về bồi thường dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Kim H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù h p với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đư c sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2018.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bò caùo ñöôïc khaùng caùo trong haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Người bị hại vắng mặt đư c quyền kháng cao trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c tống đạt h p lệ.
TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP.B; - THA B; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nôi nhaän - TAND tænh - VKSND TP.Bieân Hoøa - THA Bieân Hoøa - Bò caùo - Löu CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Nôi nhaän - TAND tænh - VKSND TP.Bieân Hoøa - THA Bieân Hoøa - Bò caùo - Löu | THAÅM PHAÙN- CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA Trần Thị Mỹ Hạnh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM THAÅM PHAÙN- CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA Trần Thị Mỹ Hạnh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM THAÅM PHAÙN- CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA Thái Thị Thanh Bình |