vanban.org

Bản án 64/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Mạnh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2019. Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 08cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 10cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại hình vuông màu vàng quấn băng keo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Mạnh T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HS-ST
Ngày : 09/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Huỳnh Văn Phát

Ông Nghiêm Xuân Hoàng

- Thư ký phiên tòa

: Bà Hoàng Thị Huế -

là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 064/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Lâm Mạnh T sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 13/6 Đường D, Phường L, quận P, TP HCM; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn R (chết) và bà Phạm Thị N. Y (chết); vợ: Nguyễn T. D (có 01 con sinh năm 2015); tiền sự: 01. Ngày 14/12/2018 bị Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; tiền án: 01. Bản án số 61/2017/HSST ngày 16/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; nhân thân: Bản án số 85/1998/HSST ngày 04/9/1998 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”. Bản án số 208/1999/HSST ngày 28/9/1999 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”. Bản án số 53/2005/HSST ngày 17/8/2005 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bản án số 140/2009/HSST ngày 20/8/2009 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị bắt tạm giam ngày 20/5/2019 (có mặt).

- Người bị hại: Ông Đỗ Đức A

sinh năm: 1999

Thường trú: 66 Đường P, xã L, huyện T, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở hiện nay: 204/5 Đường Q, Phường H, quận T, TP HCM.

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Đỗ Đức Th

sinh năm: 1972

Thường trú: 66 Đường P, xã L, huyện T, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/5/2019, Lâm Mạnh T ngồi uống nước tại trước chùa P trên đường Đường B, Phường L, quận P, TP HCM thì nhìn đối diện bên kia đường trước cửa hàng bán quần áo số 41-43 Đường B, Phường M, quận P, TP HCM có để 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển số 49E1-333.19 không người trông coi. T liền nảy sinh ý định trộm chiếc xe bán lấy tiền tiêu xài. T đi bộ vào hẻm 39 rồi vòng qua hẻm 61 cùng đường Đường B, Phường M, quận P. Sau đó đi tới chỗ để xe máy, dùng tay vịn vào cổ xe lắc thử xem xe có khóa cổ không thì biết xe không khóa cổ, T lấy đầu đoản mang theo trong người cho vào ổ khóa rồi dùng chìa khóa số 08 mang theo vặn đoản mở công tắc xe rồi lên xe chạy thoát. Sau đó, T mang xe đến tiệm game bắn cá số 87 Đường K, phường Đ, Quận T, TP HCM nhờ người bạn tên T.M (không rõ nhân thân) bán dùm chiếc xe. T.M báo giá bán xe được khoảng 4 đến 5 triệu đồng, T đồng ý. T.M đưa trước cho T 320.000 đồng rồi T.M mang xe đi bán. T ngồi chờ ở tiệm game đến 03 giờ ngày 19/5/2019 không thấy T.M quay lại nên đi về nhà. Tiến hành xác minh, công an đã triệu tập T lấy lời khai liên quan đến vụ trộm. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, bị cáo Lâm Mạnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Vật chứng của vụ án:

- 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 08cm, đầu đập dẹp;

- 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 10cm, đầu đập dẹp;

- 01 thanh kim loại hình vuông màu vàng quấn băng keo màu đen dài khoảng 08 cm;

- 01 thanh kim loại màu trắng, đầu có núm xoay dài khoảng 15cm;

- 01 quần kaki dài màu xám đen;

- 01 áo sơ mi trắng dài tay chấm bi màu đỏ đen.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển số 49E1-333.19, số khung: 4614EY394704, số máy F46E-5094683;

- 01 USB trích từ camera ghi lại hình ảnh vụ trộm.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận ngày 22/5/2019 thì 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 49E1-333.19 đã qua sử dụng có giá trị 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSPN ngày 05/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Lâm Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và tranh luận: Sau khi xem xét đầy đủ, T diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra. Bị cáo T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác có giá trị là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 08cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 10cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại hình vuông màu vàng quấn băng keo màu đen dài khoảng 08 cm và 01 thanh kim loại màu trắng, đầu có núm xoay dài khoảng 15cm. Đối với 01 quần kaki dài màu xám đen và 01 áo sơ mi trắng dài tay chấm bi màu đỏ đen: bị cáo không nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Về bồi thường dân sự: ông Th có yêu cầu bị cáo bồi thường theo số tiền mà Hội đồng định giá đã định giá chiếc xe nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường thiệt hại giá trị chiếc xe bị mất.

- Bị cáo Lâm Mạnh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản xác định địa điểm, biên bản ghi nhận sự việc, các hình ảnh trích xuất từ camera ghi lại toàn bộ vụ trộm, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận của hội đồng định giá cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/5/2019, bị cáo T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản trước nhà số 41-43 Đường B, Phường M, quận P. Tài sản mà bị cáo trộm cắp là 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đỏ đen có giá trị 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng. Như vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [3]. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xét xử nghiêm bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo một thời gian dài để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, đồng thời giúp bị cáo cai nghiện được ma túy.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 04 tiền án đã được xóa án tích, còn 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình. [5]. Về bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng trong vụ án:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển số 49E1-333.19, số khung: 4614EY394704, số máy F46E-5094683: Qua xác minh chiếc xe này do ông Đỗ Đức Th đứng tên sở hữu, ông Th đưa xe cho con trai ông là Đỗ Đức A sử dụng. Ngày 18/5/2019, Đức A dựng xe trước nhà số 41-43 Đường B, Phường M, quận P thì bị mất trộm xe, hiện không thu hồi được. Ông Th yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe theo kết luận của Hội đồng định giá là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng. Nhận thấy đây là yêu cầu bồi thường hợp pháp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 08cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 10cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại hình vuông màu vàng quấn băng keo màu đen dài khoảng 08 cm và 01 thanh kim loại màu trắng, đầu có núm xoay dài khoảng 15cm: T khai đây là những dụng cụ do T.M đưa cho T nhờ giữ khi T.M mang xe đi bán. Nhận thấy, đây là những dụng cụ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 quần kaki dài màu xám đen và 01 áo sơ mi trắng dài tay chấm bi màu đỏ đen: bị cáo không đồng ý nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 USB trích từ camera ghi lại hình ảnh vụ trộm cần lưu vào hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, cần buộc bị cáo nộp lại 320.000 (ba trăm hai mươi ngàn) đồng mà T.M đưa trước cho bị cáo tiền bán xe.

. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lâm Mạnh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2019.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 08cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại lục giác màu trắng, dài khoảng 10cm, đầu đập dẹp; 01 thanh kim loại hình vuông màu vàng quấn băng keo màu đen dài khoảng 08 cm và 01 thanh kim loại màu trắng, đầu có núm xoay dài khoảng 15cm; 01 quần kaki dài màu xám đen và 01 áo sơ mi trắng dài tay chấm bi màu đỏ đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

Buộc bị cáo Lâm Mạnh T nộp lại 320.000 (ba trăm hai mươi ngàn) đồng sung quỹ nhà nước.

Lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại hình ảnh vụ trộm.

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung, năm 2017; các Điều 357, 468, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Lâm Mạnh T bồi thường cho ông Đỗ Đức Th số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 1.250.000 (một triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày ông Đỗ Đức Th có đơn yêu cầu bị cáo phải thi hành án khoản tiền bồi thường; nếu bị cáo chậm thi hành thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ