- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ya B Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ya B phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/HS-ST Ngày: 15 -11 -2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Minh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Lam.
2. Ông Ya Tuân.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Ngân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ya B; Sinh năm 1988 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chu Ru; Tôn giáo: công giáo; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông Ya Ph, sinh năm 1963 và con bà Ma B, sinh năm 1963 hiện cả hai làm nông tại thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; Anh, em ruột: Có 05 người, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 2001, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đơn Dương từ ngày 12/8/2019 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: 1. Ông Ya Đ, sinh năm 1959; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt. 2. Chị Cru Yang Nai S, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Ma B, sinh năm 1963; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người làm chứng: 1. Anh Ya L, sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt. 2. Anh Jong Prong H, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt. 3. Anh Ya L2, sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt. 4. Anh Touneh Mã Ng, sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt. 5. Anh Nguyễn Ng Ch, sinh năm 1982; Địa chỉ: số 41 Trần Hưng Đạo, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt. 6. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1956; Địa chỉ: thôn Thanh Bình 2, xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 11/8/2019, Ya B cùng với Ya L ngồi uống rượu tại nhà Jong Prong H cùng ở thôn Hawai, xã TT, huyện Đơn Dương. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, ông Ya Đ ở cùng thôn đến nhà của H để thu tiền lãi Ngân hàng chính sách thì có để 01 túi xách màu xám bên trong có 01 ví da đựng 5.000.000 đồng ở đầu giường rồi ngồi uống rượu cùng. Một lúc sau thì Ya Đ đi ra ngoài cùng với Ya L và Jong Prong H còn Ya B đi về. Khi đi về được khoảng 50m thì Ya B nảy sinh ý định lấy túi xách của Ya Đ nên quay lại nhà H. Lúc này thấy không có ai nên Ya B lấy túi xách của Ya Đ đi về, trên đường đi Ya B kiểm tra túi xách thì thấy có 01 (một) ví da màu nâu bên trong có tiền, Ya B lấy toàn bộ số tiền bỏ vào trong túi quần, còn ví da và túi xách vứt ở bên đường. Đến ngày 12/8/2019 hành vi trộm cắp tài sản của Ya B bị phát hiện cùng tang vật.
Ngoài ra quá trình điều tra xác định được:
Vào khoảng 17 giờ 0 phút ngày 30/09/2018, trên đường đi uống rượu về, Ya B nảy sinh ý định mượn xe máy đánh có gắn rơ moóc của em gái là Cru Yang Nai S ở thôn HW, xã TT, huyện Đơn Dương mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định đó, Ya B đi đến nhà của Cru Yang Nai S nhưng không thấy xe máy đánh ở nhà. Tuy nhiên Ya B biết được xe máy đánh của Nai S đã cho Ya L2 ở cùng thôn mượn từ sáng nên Ya B đi bộ qua nhà Ya L2 rồi điều khiển xe máy đánh về nhà Nai S và nói với Nai S cho mượn xe máy đánh để đi chở cà phê. Sau khi mượn được xe, Ya B không điều khiển đi chở cà phê mà điều khiển xe đến nhà ông Bùi Văn M ở thôn Thanh Bình 2, xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng cầm cố lấy số tiền 14.000.000đ rồi dùng số tiền này mua 01 xe mô tô 49B1 - 027.31 và tiêu xài cá nhân. Sau khi thực hiện hành vi Ya B đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 56/2018/BB/HĐĐGTS ngày 29/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đơn Dương kết luận: Xe máy đánh có gắn rơ moóc mà Ya B chiếm đoạt có giá trị là 14.360.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Cáo trạng số 62/CT-VKSĐD ngày 30/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố Ya B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Ya B mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Ya B mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã thu giữ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật nên không đề cập đến.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận vào ngày 11/8/2019 lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của ông Ya Đ bị cáo đã trộm cắp của ông Ya Đ 01 túi xách màu xám bên trong có số tiền 5.000.000đ, ngoài ra ngày 30/9/2018 bị cáo đã mượn xe máy đánh có gắn rơ móc của chị gái Cru Yang Nai S sau đó mang đi cầm cố lấy số tiền 14.000.000đ. Bị cáo đã sử dụng toàn bộ số tiền trên để mua xe mô tô làm phương tiện đi lại và cất giữ tiêu xài cá nhân. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Đơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội:
Vào ngày 11/8/2019, bị cáo Ya B lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của ông Ya Đ đã trộm cắp túi xách màu xám bên trong có số tiền 5.000.000đ. Ngoài ra ngày 30/9/2018, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã mượn xe máy đánh có gắn rơ móc của chị gái Cru Yang Nai S sau đó mang đi cầm cố lấy số tiền 14.000.000đ. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Kết luận định giá tài sản, phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ya B phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố bị cáo theo điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên đã xâm phạm tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về vật chứng:
- Đối với xe máy đánh có gắn rơ moóc thuộc sở hữu của chị Cru Yang Nai S, khi biết Ya B cầm cố xe cho ông Bùi Văn M, chị Cru Yang Nai S đã đồng ý bán xe trên cho ông Bùi Văn M, sau đó ông M đã bán lại xe trên cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ, do vậy không thu giữ được vật chứng trên nên không xem xét đến.
- Đối với xe mô tô 49B1-027.31 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - bạc là xe mà Ya B dùng số tiền cầm cố xe máy đánh để mua. Hiện nay, chị Cru Yang Nai S đã nhận xe mô tô 49B1-027.31 và không yêu cầu Ya B bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Đối với túi xách màu xám, ví da màu nâu, số tiền 4.690.000đ, Cơ quan CSĐT đã thu giữ và trả lại cho Ya Đ. Đến nay ông Đ không yêu cầu gì thêm nên không xem xét đến.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động mẹ là Ma B bồi thường cho ông Ya Đ số tiền 310.000đ. Tại phiên tòa, ông Ya Đ không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét đến.
Quá trình điều tra, chị Cru Yang Nai S đã bán chiếc xe máy đánh có gắn rơ moóc do bị cáo cầm cố cho ông Bùi Văn M, đồng thời chị đã nhận xe mô tô biển số 49B1 – 027.31 do bị cáo sử dụng số tiền cầm cố xe máy đánh để mua. Tại phiên tòa, chị Cru Yang Nai S không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét đến.
Bà Ma B không tranh chấp gì với bị cáo về số tiền 310.000đ đã đứng ra bồi thường cho ông Ya Đ nên không xem xét đến.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ya B phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Ya B 09 (Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Ya B 09 (Chín) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của cả hai tội là 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 12/8/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Ya B phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Minh Dũng
| Nơi nhận: - TANDTỉnh Lâm Đồng; - VKSND Tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đơn Dương; - Sở tư pháp Tỉnh Lâm Đồng; - Công an huyện Đơn Dương; - Thi hành án Đơn Dương; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: HS; THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Minh Dũng |