vanban.org

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Lin, Chen- Hung đối với chị

Nguyễn Mộng Th. Anh Lin, Chen- Hung được ly hôn chị Nguyễn Mộng Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Lin, Chen- Hung đối với chị
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27-11-2019
V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Lượng;

2. Ông Lê Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh,

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2019/QĐXX-ST ngày 28 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lin, Chen- Hung, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số

19, Trần Phố, khóm 002, thôn Giang Tây, làng Phiên Lộ, huyện Gia Nghĩa, Đài Loan. - (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Mộng Th, sinh năm 2000; Địa chỉ: xã Tr,

huyện H, tỉnh Tây Ninh. - (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26-8-2019 và bản tự khai ngày 26-8-2019

của anh Lin, Chen- Hung trình bày:

Anh và chị Nguyễn Mộng Th tự nguyện chung sống có đăng ký kết

hôn vào ngày 10-4-2019 tại Ủy ban nhân dân huyện Hòa Thành. Sau khi đăng ký kết hôn anh làm thủ tục bảo lãnh chị Th sang Đài Loan sống cùng anh. Anh liên hệ với chị Th nhưng chị Th không nghe và tắt điện thoại nên anh không liên lạc được với chị Th. Anh liên hệ với gia đình chị Th cũng không được. Đến ngày phỏng vấn chị Th không đến phỏng vấn. Anh nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Đến nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Mộng Th.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu

quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách

những người tham gia tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã thực

hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo đúng thành phần Hội đồng xét xử, phạm vi xét xử, trình tự thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của

anh Lin, Chen- Hung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa,

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Lin, Chen- Hung có đề nghị xét xử vắng mặt;

Trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện chị Nguyễn Mộng Th sống cùng ông Nguyễn Văn Tán, bà Vương Thị Loan là ông bà ngoại của chị Th. Ông Tán bà Loan cho biết chị Th không có mặt ở nhà, chị Th đi đâu ông bà không rõ, chị không liên lạc với gia đình và gia đình cũng không liên lạc được với chị. Do đó, Tòa án tiến hành tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho chị Th theo thủ tục niêm yết công khai để giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt chị Nguyễn Mộng Th, anh Lin, Chen- Hung theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét đơn khởi kiện của anh Lin, Chen- Hung thấy rằng: anh Lin,

Chen- Hung và chị Nguyễn Mộng Th tự nguyện đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam nên quan hệ hôn nhân anh chị là hợp pháp được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ. Sau khi đăng ký kết hôn chị Th từ bỏ phỏng vấn để thực hiện thủ tục bảo lãnh sang Đài Loan sinh sống, anh Lin, Chen –Hung không liên lạc được với chị Th. Anh chị không liên lạc được với nhau cho đến nay mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lin, Chen- Hung đối với chị Nguyễn Mộng Th là có căn cứ quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: anh Lin, Chen- Hung trình

bày không có, không có yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Anh Lin, Chen- Hung phải chịu 300.000 đồng theo quy

định điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a

Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Lin, Chen- Hung đối với chị

Nguyễn Mộng Th.

Anh Lin, Chen- Hung được ly hôn chị Nguyễn Mộng Th.

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: anh Lin, Chen- Hung trình

bày không có.

3. Về án phí: Lin, Chen- Hung phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng). Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh Lin, Chen- Hung đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001053 ngày 27-8-2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; ghi nhận đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ