- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị X, anh TR không công nhận là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Xử không công nhận vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN LN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2019 V/v Không công nhận là vợ chồng giữa chị X và anh TR. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung
Ông Bùi Hà Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện LN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LN tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thẩm thụ lý số: 228/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 về việc “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích X, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Bích TR, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn CH, xã TRS, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn đề nghị không công nhận là vợ chồng và chia tài sản chung ghi ngày 22/4/2019 cùng các lời khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích X trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích X chung sống với anh Nguyễn Bích TR năm 2010, anh chị có được tự do tìm hiểu, thỏa thuận và tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn vì lý do khách quan. Sau khi cưới xong chị về gia đình anh Trường chung sống và ở tại thôn CH, xã TRS, thời gian đầu tình cảm giữa anh chị hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2015 giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng trong quan điểm sống trong làm ăn phát triển kinh tế và sinh hoạt hàng ngày nên hai bên thường xảy ra xô sát. Năm 2015 anh chị chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế, hai bên không còn quan tâm qua lại. Nay chị xét thấy tình cảm giữa anh chị không còn, chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Nguyễn Bích TR là vợ chồng.
-Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR có một con chung là Nguyễn Bích S, sinh ngày 29/9/2010 chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
-Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị Bích X không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Bích X có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai có trong hồ sơ vụ án anh Nguyễn Bích TR trình bày: Anh Nguyễn Bích TR chung sống với chị Nguyễn Thị Bích X năm 2010, anh chị có được tự do tìm hiểu, thỏa thuận và tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn vì lý do khách quan. Sau khi cưới xong chị X về gia đình anh chung sống và ở tại thôn CH, xã TRS, thời gian đầu tình cảm giữa anh chị hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2015 giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong quan điểm sống trong làm ăn phát triển kinh tế và sinh hoạt hàng ngày nên hai bên thường xảy ra xô sát. Năm 2015 anh và chị X cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế, hai bên không còn quan tâm qua lại. Nay anh xét thấy tình cảm giữa anh chị X không còn, chị X tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh là vợ chồng, anh đồng ý.
-Về con chung: Anh Nguyễn Bích TR và chị Nguyễn Thị Bích X có một con chung là Nguyễn Bích S, sinh ngày 29/9/2010 hiện đang ở với anh, nay anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
-Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Anh Nguyễn Bích TR không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Bích TR có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LN tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành tương đối nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 11, 13, 85, 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử không công nhận vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR.
Ngoài ra đại điện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích X và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Do chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Do vậy Tòa án xác định quan hệ vụ án tranh chấp “Không công nhận là vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện LN theo quy định tại khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích X chung sống với anh Nguyễn Bích TR năm 2010, trước khi về chung sống anh chị có được tự do tìm hiểu, thỏa thuận và tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống của địa phương nhưng. Sau khi cưới xong chị X về gia đình anh Trường chung sống và ở tại thôn CH, xã TRS, thời gian đầu tình cảm giữa anh chị hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2015 giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong quan điểm sống trong làm ăn phát triển kinh tế và sinh hoạt hàng ngày nên hai bên thường xảy ra xô sát. Năm 2015 anh chị cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế, hai bên không còn quan tâm qua lại. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm giữa chị X, anh Trường đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR đều có nguyện vọng đề nghị Tòa án không công nhận ông bà là vợ chồng. Do anh chị về chung sống nhưng không đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 11, 13, 85, 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 xử không công nhận vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR có một con chung là Nguyễn Bích S, sinh ngày 29/9/2010 anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Bích X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 11, 13, 85, 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000;
Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử không công nhận vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Bích X và anh Nguyễn Bích TR.
2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Bích X phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0003954 ngày 22/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện LN; - Chi cục THADS huyện LN; - Các đương sự; - UBND xã TRS; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |