- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị H và Ngô Ngọc Đ ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thanh H về việc xin ly hôn anh Ngô Ngọc Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/HNGĐ - ST Ngày: 30 - 10 - 2019. Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Giang. Ông Dương Xuân Thìn.
- Thƣ ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 388/2019/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp Ly hôn và nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2019/QĐXXST– HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thanh H, sinh tháng 9 năm 1983, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 15/9/2009; Hộ khẩu thường trú: Thôn LH, xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Thôn LP, xã TD, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Ngô Ngọc Đ, sinh ngày 03/6/1973, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát cấp ngày 18/01/2017; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn LH, xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thanh H kết hôn với anh Ngô Ngọc Đ trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội ngày 19/12/2002. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau tại nhà đất gia đình anh Đ có từ trước ở thôn LH, ML, ĐA, Hà Nội và ăn ở riêng.
Theo chị Lê Thanh H trình bày: Quá trình chung sống, anh chị chỉ hạnh phúc trong năm đầu tiên sau khi cưới, đến năm 2003 đã bắt đầu mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, việc đó kéo dài đến năm 2017 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ không quan tâm đến vợ con, không đóng góp kinh tế cho chị để cùng nuôi dạy con, mọi việc lo toan mua sắm trong gia đình và chăm sóc, nuôi dạy con cái từ khi cưới đến nay đều do chị tự mình cáng đáng. Trong quá trình chung sống, chị đã nhiều lần bỏ về nhà ngoại do bị ức chế bởi tính cách bảo thủ của anh Đ và do anh Đ đuổi chị trước mặt các con. Sau khi bỏ về nhà bố mẹ đẻ, chị quay lại chung sống với anh Đ thì anh không thay đổi mà còn quá đáng hơn, chị dọa viết đơn vài lần anh cũng không thay đổi. Lần gần đây nhất là khoảng tháng 11, 12 năm 2018, chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở TD, ĐA, Hà Nội cho đến nay. Nguyên nhân là do anh Đ nghe gia đình nhà anh nói là chị có mối quan hệ khác, anh Đ họp cả gia đình, họ hàng nhà chị, nói chị ngoại tình, có con riêng là cháu Ngô Duy B. Tuy nhiên, anh Đ đã làm xét nghiệm ADN và kết quả cháu B là con chung của chị và anh Đ, việc này khiến chị cảm thấy mất danh dự và không thể chấp nhận được, chính việc này khiến bố đẻ chị suy nghĩ và bị đột quỵ. Tháng 2 năm 2019, anh Đ lên nhà bố mẹ đẻ chị gặp chị nói chuyện, anh chị xảy ra to tiếng, anh Đ tát chị trước mặt các con. Do vậy, chị đã nộp đơn xin ly hôn lên Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Tòa án đã thụ lý giải quyết nhưng do anh Đ xin lỗi, hứa sẽ sửa chữa lỗi nên chị rút đơn và Tòa án đình chỉ giải quyết. Sau khi Tòa án đình chỉ, anh Đ không đón chị về nên hai vợ chồng vẫn ly thân từ đó đến nay. Chị xác định không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc với anh Đ nên xin ly hôn. Tuy anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng anh cũng không có một hành động hay lời nói nào xin lỗi chị, thể hiện sửa chữa lỗi lầm của bản thân. Tính cách của anh sau nhiều lần mâu thuẫn vẫn không thay đổi, không sửa chữa được.
Theo anh Ngô Ngọc Đ trình bày: Quá trình chung sống, anh chị vẫn bình thường cho đến năm 2017 mới có mâu thuẫn do anh có nghe lời đồn bên ngoài là vợ ngoại tình. Từ khi lấy nhau, anh vẫn quan tâm chăm sóc gia đình. Chị H lúc ấy chỉ làm may lương thấp, anh làm cơ khí được bao nhiêu tiền đều để vào két, vợ chồng dùng chung. Cuộc sống vợ chồng có những mâu thuẫn nhưng vợ anh không nói ra cho anh biết, anh không hiểu được dẫn đến Chị H tự ức chế trong lòng. Việc Chị H bỏ về nhà ngoại ở nguyên nhân do có lời đồn là Chị H có mối quan hệ với người đàn ông khác, anh không có chứng cứ gì chỉ là nghe bên ngoài đồn thổi. Anh không được họp gia đình nhà ngoại để nói chị H ngoại tình mà hôm đó là do có cỗ anh nhân tiện nói chuyện với gia đình nhà vợ là anh vẫn muốn vợ quay lại với anh. Việc xét nghiệm ADN là do chị H đề nghị, chị H nói nếu anh không tin chị thì mang cháu B đi xét nghiệm. Vợ chồng anh sống ly thân từ tháng 8 năm 2018, do chị H bế con bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị ở cho đến nay. Tháng 2 năm 2019, bố chị H ốm, anh đến thăm ông, gặp chị H nói chuyện, anh bế con nhưng chị H không cho anh gặp con, có các bác cũng lên thăm cùng thì chị H có nói các bác ăn ở thất đức nên anh bực quá tát chị H một cái. Chị H đã từng nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án và rút đơn. Sau khi chị H rút đơn, anh có lên đón nhưng chị H không về nên anh chị vẫn sống ly thân từ đó đến nay. Anh vẫn mong chị H quay về đoàn tụ với gia đình, mọi mâu thuẫn, dị nghị hai vợ chồng cùng bỏ qua cho nhau để nuôi dạy con cái. Anh đề xuất các biện pháp để khắc phục mâu thuẫn, cụ thể:
- Nếu có vấn đề gì chị H hãy nói ra để anh biết, hai vợ chồng cùng bàn bạc giải quyết, không nên để trong lòng gây ức chế lâu dài.
- Việc chị H có lời đồn là ngoại tình anh không tin mà vẫn một lòng tin tưởng vợ.
- Hai vợ chồng cùng có nghĩa vụ chăm sóc con cái, vun vén gia đình, đóng góp kinh tế chung.
- Tôn trọng ý kiến của nhau, tôn trọng gia đình nhau.
Ngoài ra, anh không còn biện pháp nào hơn để cải thiện quan hệ của anh chị. Anh tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị đoàn tụ cùng nhau.
Về con chung: Anh chị thống nhất trình bày vợ chồng có ba con chung là: Ngô Lê Lộc V, sinh ngày 27/10/2003; Ngô Hà A, sinh ngày 26/11/2009 và Ngô Duy B, sinh ngày 22/8/2017. Các con anh chị đều khỏe mạnh, bình thường. Hiện nay cháu Hà A và cháu B đang ở với chị H, cháu V đang ở với anh Đ.
Chị Lê Thanh H xác định: Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu B và cháu Hà A; còn anh Đ nuôi cháu V, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Chị đang làm tiếp thị ở Công ty cổ phần Dược phẩm ĐNA, có trụ sở văn phòng đại diện ở ga ĐA, thu nhập bình quân từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/ 1 tháng.
Anh Ngô Ngọc Đ xác định: Trường hợp phải ly hôn, Anh yêu cầu được nuôi cả ba con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Anh mở xưởng cơ khí tại nhà ở LH, ML, ĐA, Hà Nội, có 03 công nhân, anh làm chủ, thu nhập bình quân từ 12.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng/ 1 tháng.
Về tài sản chung của vợ chồng: Anh chị cùng thống nhất xác định anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị H vẫn giữ nguyên các ý kiến, quan điểm đã trình bày tại Tòa án. Chị xác định chị không còn tình cảm với anh Đ và chị cũng đã cho anh cơ hội để sửa chữa sai lầm, vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Đ không thừa nhận có lỗi, bảo thủ nên không thể cải thiện quan hệ do vậy chị kiên quyết xin ly hôn.
Anh Đ trình bày anh không đồng ý ly hôn. Toàn bộ nội dung Chị H trình bày về mâu thuẫn vợ chồng là không đúng. Anh đi làm vẫn lo lắng cho gia đình dù chị H đi làm may lương thấp, hay nghỉ việc ở nhà. Việc mọi người đồn thổi chị H ngoại tình là do mọi người nói, anh không tham gia mà còn bảo chị kệ họ nói gì thì nói mình cây ngay không sợ chết đứng nhưng chị H vẫn cứ đòi bỏ về nhà chị nên anh không biết làm thế nào. Nay chị H kiên quyết đòi xin ly hôn, anh không đồng ý nhưng cũng không có biện pháp gì hơn để cải thiện quan hệ vợ chồng nên để tùy chị H. Về con chung: Anh đề nghị theo nguyện vọng của các cháu và chị H. Nếu phải ly hôn, anh trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Lê Lộc V, để cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Hà A và cháu Ngô Duy B và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau cho đến khi các con thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Về tài sản chung của vợ chồng: Anh nhất trí ý kiến của chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về việc giải quyết vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thanh H xin ly hôn anh Ngô Ngọc Đ. Chị Lê Thanh H được ly hôn anh Ngô Ngọc Đ.
Về con: Chị H, anh Đ có 03 con chung là: Ngô Lê Lộc V, sinh ngày 27/10/2003; Ngô Hà A, sinh ngày 26/11/2009 và Ngô Duy B, sinh ngày 22/8/2017. Ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị, ly hôn, chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Hà A, cháu Ngô Duy B; anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Lê Lộc V và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau cho đến khi các con chung của anh chị thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Chị H, anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản của vợ chồng: Anh chị không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thanh H và anh Ngô Ngọc Đ: Anh chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội ngày 19/12/2002 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Anh chị cùng thống nhất xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ nửa cuối năm 2018 cho đến nay. Nguyên nhân anh chị mâu thuẫn là do có tin đồn chị H ngoại tình dẫn đến vợ chồng hiểu lầm và có những cãi vã, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị ở TD ở cho đến nay. Anh chị đều thừa nhận đầu năm 2019 chị H đã làm đơn xin ly hôn đến Tòa án nhưng do anh Đ hứa sửa chữa nên chị đã rút đơn. Từ khi rút đơn theo chị H, anh Đ không đến nhà bố mẹ chị đón chị về và hai bên vẫn tiếp tục căng thẳng, không cải thiện được mâu thuẫn. Anh Đ xác định muốn gia đình đoàn tụ và đưa ra các biện pháp để khắc phục mâu thuẫn tuy nhiên anh cũng thừa nhận từ khi chị rút đơn ly hôn lần đầu tại Tòa án vào đầu năm 2019 thì chị không về ở chung cùng anh, anh cũng không đón được chị về ở cùng và hai bên vẫn không nói chuyện, dàn xếp những bất hòa được với nhau. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã kéo dài, đã được gia đình hòa giải, anh chị đã từng cho nhau cơ hội để đoàn tụ thể hiện bằng việc nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhưng sau đó lại xin rút đơn nhưng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn. Do vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thanh H với anh Ngô Ngọc Đ là phù hợp quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh chị thống nhất xác định vợ chồng có ba con chung là: Ngô Lê Lộc V, sinh ngày 27/10/2003; Ngô Hà A, sinh ngày 26/11/2009 và Ngô Duy B, sinh ngày 22/8/2017. Các cháu khỏe mạnh, bình thường, cháu V đang ở cùng anh Đ, các cháu Hà A và cháu B đang ở cùng chị H. Tại phiên tòa, chị H và anh Đ cùng có nguyện vọng nếu ly hôn chị H được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Hà A và cháu B, anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau cho đến khi các con chung của anh chị thành niên hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp quy định của pháp luật. Hơn nữa, cháu V thể hiện quan điểm không muốn bố mẹ ly hôn nhưng nếu bố mẹ vẫn ly hôn thì cháu muốn ở với bố. Cháu Hà A trình bày quan điểm nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn ở với mẹ. Cháu B còn nhỏ (dưới 03 tuổi) nên Tòa án không hỏi quan điểm nguyện vọng của cháu. Do vậy, để phù hợp với nguyện vọng của các cháu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của anh chị và quy định của pháp luật thì khi anh chị ly hôn ghi nhận sự tự nguyện của anh chị để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hà A, cháu B và anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau cho đến khi các con chung của anh chị thành niên hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp.
Về tài sản chung của vợ chồng: Anh chị cùng có ý kiến xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật nên được Tòa án ghi nhận.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Lê Thanh H là nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thanh H về việc xin ly hôn anh Ngô Ngọc Đ. Chị Lê Thanh H được ly hôn anh Ngô Ngọc Đ.
Về con chung: Chị Lê Thanh H và anh Ngô Ngọc Đ có ba con chung là: Ngô Lê Lộc V, sinh ngày 27/10/2003; Ngô Hà A, sinh ngày 26/11/2009 và Ngô Duy B, sinh ngày 22/8/2017. Ghi nhận sự tự nguyện của anh chị, ly hôn chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Ngô Hà A, cháu Ngô Duy B; anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ngô Lê Lộc V và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau cho đến khi các cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Chị Lê Thanh H và anh Ngô Ngọc Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản của vợ chồng: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Lê Thanh H phải chịu để sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0008735 ngày 25/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Chị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm chị Lê Thanh H, anh Ngô Ngọc Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án../.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đông Anh; - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; - THA dân sự huyện Đông Anh; - UBND xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội (GCN kết hôn số 125 ngày 19/12/2002); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Thanh |