vanban.org

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V đối với anh Hứa Thanh N.

Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Hứa Thanh N [2] Con chung: Giao cho anh Hứa Thanh N tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên Hứa Nguyễn Cẩm V, sinh ngày 09/02/2007, Hứa Nguyễn Cẩm U sinh ngày 23/11/2012 và Hứa Nguyễn Cẩm Q sinh ngày 04/11/2017. Chị Nguyễn Thị Cẩm V không phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V đối với anh Hứa Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06-9-2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí

Ông Nguyễn Ngọc Huy

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 321/2019/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1986, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh A, có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hứa Thanh N, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh A, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm V trình bày:

Chị V và anh Hứa Thanh N kết hôn năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh A theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 06/2006 ngày 13/01/2006. Quá trình chung sống, anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, tuy nhiên giữa chị V với gia đình anh N cũng không được thuận thảo. Bên cạnh có anh N thường có hành vi bạo lực đối với chị V nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Thời gian mâu thuẫn kéo dài nhưng không thể giải quyết được nên hiện nay chị V đã đi nơi khác sinh sống. Chị V xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: có 03 con chung tên Hứa Nguyễn Cẩm V, sinh ngày 09/02/2007, Hứa Nguyễn Cẩm U sinh ngày 23/11/2012 và Hứa Nguyễn Cẩm Q sinh ngày 04/11/2017, hiện nay các con đang sống với anh N. Nên sau khi ly hôn, chị V đồng ý để anh N tiếp tục nuôi các con và chị không cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hứa Thanh N mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh N không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị V và nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền của tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và quan hệ tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét bị đơn anh Hứa Thanh N mặc dù đã được Tòa án tống đạt 02 lần giấy báo tham gia phiên tòa nhưng anh N vẫn vắng mặt và chị V có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các bên.

Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Hứa Thanh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh A vào năm 2006 đúng với quy định Khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị V yêu cầu ly hôn với anh N do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, anh N không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản để thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị V, cho thấy anh N không có thiện chí để vợ chồng hòa giải đoàn tụ. Hơn nữa, chị V cương quyết xin ly hôn và không yêu cầu hòa giải đoàn tụ. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh N đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Hứa Thanh N.

Nuôi con chung: Hiện nay 03 con chung tên Hứa Nguyễn Cẩm V, sinh ngày 09/02/2007, Hứa Nguyễn Cẩm U sinh ngày 23/11/2012 và Hứa Nguyễn Cẩm Q sinh ngày 04/11/2017 đang sống với anh N, chị V đồng ý để anh N tiếp tục nuôi các con. Xét thấy anh N không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung nhưng tại bản tự khai cháu V và U có nguyện vọng sống với anh N. Do đó, Hội đồng xét thấy, con chung đang sống với anh N và có nguyện vọng sống với cha nên giao cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng các con chung.

Cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định Khoản 24 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên...”. Điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”, tuy nhiên chị V có ý kiến không cấp dưỡng nuôi con hàng tháng và quá trình giải quyết anh N cũng không có yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con. Do đó, không buộc chị V cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 các Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V đối với anh Hứa Thanh N.

Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Hứa Thanh N

[2] Con chung: Giao cho anh Hứa Thanh N tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên Hứa Nguyễn Cẩm V, sinh ngày 09/02/2007, Hứa Nguyễn Cẩm U sinh ngày 23/11/2012 và Hứa Nguyễn Cẩm Q sinh ngày 04/11/2017. Chị Nguyễn Thị Cẩm V không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.1] Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

[2.2] Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

[2.3] Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[2.4] Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[2.5] Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 3567 ngày 11/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.

[4] Án này là sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ