vanban.org

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Lợi - Hải"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27-11-2019
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Hưng.

2. Bà Nguyễn Thị Rê.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm

2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

58/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L - Sinh năm 1983 - Địa chỉ: khu phố

A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H - Sinh năm 1981 - Địa chỉ: khu phố A, thị

trấn B, huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/8/2019, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà

Nguyễn Thị Hồng L trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh H xác lập quan hệ vợ

chồng và có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2003 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện

C, tỉnh Long An. Sống chung hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẩn,

nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông H thường xuyên ăn chơi, nhậu nhẹt,

cờ bạc, cá độ bóng đá, không có trách nhiệm với vợ con, ngược đãi bà. Ly thân từ

tháng 6/2019 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt G, sinh ngày

26/7/2004 và Nguyễn Thanh V, sinh ngày 08/4/2013 - hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng; thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi từng con chung đủ 18 tuổi.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông H vắng mặt tại các

phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Nguyễn Thị Hồng L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thanh H,

Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông H được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông H

không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông H không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Hồng L và ông Nguyễn Thanh H chung sống có đăng ký

kết hôn ngày 18/7/2003 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L cho rằng

vợ chồng xảy ra mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông H thường xuyên ăn chơi, nhậu nhẹt, cờ bạc, cá độ bóng đá, không có trách nhiệm với vợ con, ngược đãi bà. Ông H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà L, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẩn giữa bà L và ông H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung tên

Nguyễn Nhựt G, sinh ngày 26/7/2004 và Nguyễn Thanh V, sinh ngày 08/4/2013.

Xét từ khi bà L và ông H sống ly thân con chung do bà L nuôi dưỡng, con chung

Nguyễn Nhựt G có nguyện vọng sống chung với bà L, nhằm tránh sự thay đổi về

tâm lý con chung nên giao hai con chung cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp

quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Xét về cấp dưỡng nuôi con, bà L yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi hai con

chung, mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi

từng con chung đủ 18 tuổi. Bà L không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh

các chi phí cho nhu cầu thiết yêu của hai con chung cũng như thu nhập của ông H.

Xét bình quân nhu cầu thiết yêu của con chung, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy

định pháp luật, chấp nhận một phần yêu cầu của bà L, buộc ông H có nghĩa vụ cấp

dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Nhựt G và Nguyễn Thanh V, mỗi con chung

745.000 đồng/tháng từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi từng con chung đủ 18

tuổi là phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà L trình bày không có, không yêu

cầu nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết bằng

vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp. Bà L đã nộp đủ án phí.

Ông H có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh

H.

2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng L được quyền trực tiếp nuôi hai

con chung tên Nguyễn Nhựt G, sinh ngày 26/7/2004 (theo nguyện vọng của con chung) và Nguyễn Thanh V, sinh ngày 08/4/2013. Ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung, mỗi con chung 745.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi từng con chung đủ 18 tuổi.

Ông H được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích

con chung, bà L và ông H có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Hồng L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ

300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004675 ngày 03/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà L đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)

tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ