vanban.org

Bản án 64/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Võ Thị Ngọc H.

Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc H được quyền ly hôn với ông Trần Thuận H1. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 02/6/2003 cho bà Võ Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Trần Thuận H1 không phải cấp dưỡng cho con. Ông H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Võ Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 10 – 2018
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Quốc Khởi;

2/ Bà Thạch Thị Sà Phải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Trân – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2018/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST–HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc H, sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã B, huyện T, tỉnh S.

Bị đơn: Ông Trần Thuận H1, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H trình bày:

Bà H với ông Trần Thuận H1 kết hôn với nhau năm 1997 (đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 24 tháng 3 năm 1997). Sau khi kết hôn bà H và ông H1 về sống bên gia đình chồng. Thời gian đầu hai người sống hạnh phúc. Đến năm 2011, hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H1 nhậu nhẹt không lo làm ăn, bà H nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hai người ly thân từ năm 2011. Nay bà H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H1.

Trong quá trình chung sống bà H và ông H1 có ba con chung tên 1/Trần Thị Ngọc G, sinh ngày 10/01/1998 (đã trưởng thành); 2/Trần Thị Ngọc K, sinh ngày 23/02/2000 (đã trưởng thành) và Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 02/6/2003 hiện đang sống cùng bà H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà Võ Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thuận H1.

- Về con chung: Yêu cầu được nuôi cháu Trần Thị Ngọc M không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Còn Trần Thị Ngọc G và Trần Thị Ngọc K đã trưởng thành có khả năng tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Trần Thuận H1 không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 173/TB-TLVA ngày 16 tháng 8 năm 2018, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Trần Thuận H1 nhưng ông H1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc H. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông H1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H1 đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông H1, không tiến hành hòa giải được và ông H1 cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Cho bà Võ Thị Ngọc H ly hôn với ông Trần Thuận H1. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 02/6/2003 cho bà H trực tiếp nuôi, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Hai cháu Trần Thị Ngọc G, sinh ngày 10/01/1998 và Trần Thị Ngọc K, sinh ngày 23/02/2000 đã trưởng thành nên không cần đặt ra xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay ông Trần Thuận H1 mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông H1 và bà H.

Về nội dung: Bà Võ Thị Ngọc H giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Trần Thuận H1. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Ngọc H với ông Trần Thuận H1 là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H1 nhậu nhẹt, không lo làm ăn, quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2011, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau, trong giai đoạn hòa giải bà H kiên quyết yêu cầu ly hôn nên xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà H yêu cầu được ly hôn với ông H1 là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Cháu Trần Thị Ngọc G, sinh ngày 10/01/1998 và Trần Thị Ngọc K, sinh ngày 23/02/2000 đã trưởng thành, hai cháu đủ khả năng tự nuôi sống bản thân nên không cần thiết phải đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với cháu Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 02/6/2003 hiện đang sống cùng bà H. Về nguyên tắc việc trông nom, chăm sóc con chung là nghĩa vụ của cha mẹ. Theo đơn khởi kiện bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con, xét thấy bà H có đủ điều kiện nuôi con và cháu M có nguyện vọng sống cùng mẹ nên yêu cầu này là có căn cứ được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu nên ông H1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà H yêu cầu nên bà H phải chịu theo luật định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Võ Thị Ngọc H.

- Về hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc H được quyền ly hôn với ông Trần Thuận H1.

- Về con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 02/6/2003 cho bà Võ Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Trần Thuận H1 không phải cấp dưỡng cho con. Ông H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông H1 lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H1. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật. Đối với hai người con Trần Thị Ngọc G, sinh ngày 10/01/1998 và Trần Thị Ngọc K, sinh ngày 23/02/2000 đã trưởng thành, hai người đủ khả năng tự nuôi sống bản thân nên không cần thiết phải đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Ngọc H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0002766 ngày 16/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà H đã nộp xong án phí.

Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ