- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều T đối với ông Trần Hoàng D. Bà Nguyễn Kiều T được ly hôn với ông Trần Hoàng D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2018 V/v: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kim Trường Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thanh Diễn.
2. Ông Phạm Công Luận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Như Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2018 về việc: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kiều T, sinh năm 1983. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Ông Trần Hoàng D, sinh năm 1987. Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/02/2018, bản tự khai, biên bản hòa giải, các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Kiều T trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D quen nhau, tự nguyện sống chung kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 08/3/2016. Bà T và ông D chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến tháng 11/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau do ông D hay ghen tuông, không quan tâm, chăm sóc vợ con; bà T và ông D không còn sống chung từ tháng 11/2017 cho đến nay. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn với ông D nên bà T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông D.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án bị đơn ông Trần Hoàng D trình bày:
Ông Trần Hoàng D thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Kiều T về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nơi đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như lời trình bày của bà T, ông D thừa nhận có ghen tuông. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông D không đồng ý vì ông D còn thương vợ con.
Về con chung: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D khai có hai con chung tên là Trần Hoàng M, sinh ngày 02/6/2016 và Trần Minh T1, sinh ngày 14/12/2017; bà T yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Hoàng M, Trần Minh T1 và yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; ông D cũng yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Hoàng M, Trần Minh T1 và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D đều khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Kiều T về việc ly hôn với ông Trần Hoàng D.
- Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Kiều T là người trực tiếp nuôi con chung tên là Trần Hoàng M, sinh ngày 02/6/2016 và Trần Minh T1, sinh ngày 14/12/2017; buộc ông Trần Hoàng D cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D đều khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
- Bà Nguyễn Kiều T khởi kiện ông Trần Hoàng D. Hiện nay, ông Trần Hoàng D, sinh năm 1987; cư trú tại: Ấp M, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Ông Trần Hoàng D là bị đơn được Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Trần Hoàng D.
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 08/3/2016, Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D là hợp pháp. Quá trình vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu đến tháng 11/2017 thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau; ông D hay ghen tuông, không quan tâm, chăm sóc vợ con; bà T cố gắng hàn gắn nhưng ông D không thay đổi. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn với ông D nên không còn khả năng đoàn tụ. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của bà T có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.
Về việc nuôi con: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D đều khai có hai con chung tên là Trần Hoàng M, sinh ngày 02/6/2016 và Trần Minh T1, sinh ngày 14/12/2017. Tại phiên tòa, bà T yêu cầu được tiếp tục là người nuôi dưỡng cháu M và cháu T1. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của các con chưa thành niên. Xét thấy, ông Trần Hoàng D từ khi sống ly thân với bà Nguyễn Kiều T không nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và hiện nay con chung do bà T nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Xét yêu cầu được nuôi con của bà T là phù hợp theo quy định tại Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận để bà T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Kiều T yêu cầu ông Trần Hoàng D cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, ông Trần Hoàng D vắng mặt tại phiên tòa; bà Nguyễn Kiều T không có chứng cứ chứng minh thu nhập của ông D nhưng bà T chỉ yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu cấp cưỡng nuôi con của bà T là có cơ sở nên căn cứ khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, buộc ông Trần Hoàng D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con là 650.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Hoàng M và cháu Trần Minh T1 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D đều khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Kiều T phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; ông Trần Hoàng D phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Tại phiên tòa, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kiều T đối với ông Trần Hoàng D. Bà Nguyễn Kiều T được ly hôn với ông Trần Hoàng D.
2. Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cho bà Nguyễn Kiều T là người trực tiếp nuôi con chung tên là Trần Hoàng M, sinh ngày 02/6/2016 và Trần Minh T1, sinh ngày 14/12/2017; ông Trần Hoàng D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con là 650.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Hoàng M và cháu Trần Minh T1 đủ 18 tuổi. Ông Trần Hoàng D là người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Kiều T và ông Trần Hoàng D đều khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Ông Trần Hoàng D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bà Nguyễn Kiều T phải nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0015185 ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
5. Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Giồng Trôm, T. Bến Tre; - Chi cục THADS H. Giồng Trôm, T. Bến Tre; - TAND tỉnh Bến Tre (P. KTNV&THA); - UBND xã T, huyện G, T. Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Kim Trường Sơn |