vanban.org

Bản án 64/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không công nhận bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Y – sinh ngày 21/5/1996, hiện con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà T và ông Đ"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không công nhận bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 07-11-2018
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hạ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Hữu Thiện.

2/ Bà Trịnh Thúy Cơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nam – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nhã – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 561/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2018/QĐXX-ST ngày 22 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T – sinh năm 1974. (có mặt)

Nơi cư trú: Số nhà 509, tổ 13, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ (Nguyễn Đ) - sinh năm 1968. (có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà 509, tổ 13, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 8 năm 2018 và trong quá trình cung cấp chứng cứ, bà Ngô Thị T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau từ năm 1992, từ đó cho đến nay vì do bận làm ăn và không am hiểu pháp luật nên vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ông bà chung sống bình thường với nhau đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm với nhau về mọi vấn đề trong cuộc sống, ông Đ thường hay cờ bạc, đánh đề dẫn đến nợ nần rất nhiều, từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, gây gổ với nhau. Ông bà bắt đầu sống ly thân từ khoảng tháng 04/2018 cho đến nay. Ông bà có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Y – sinh ngày 21/5/1996, hiện đã lập gia đình. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đ. Về con chung thì do con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông thống nhất với những lời trình bày của bà Ngô Thị T về thời gian chung sống với nhau là đúng sự thật. Do bận làm ăn nên đến nay vẫn chưa đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ông bà chung sống bình thường với nhau đến khoảng tháng 04/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông làm ăn thua lỗ từ đó dẫn đến hạnh phúc gia đình không còn, bà T có phụ giúp ông trả nợ. Khoáng tháng 06/2018 thì cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông bà ly thân cho đến nay. Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Y – sinh ngày 21/5/1996, hiện đã lập gia đình. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý, vì vẫn còn thương vợ rất nhiều, tôi yêu cầu được đoàn tụ. Về con chung thì hiện nay con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu phát biểu quan điểm: Xét thấy Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không ý kiến gì thêm. Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Không công nhận bà T và ông Đ là vợ chồng.

- Về con chung: Con chung tên Nguyễn Y – sinh ngày 21/5/1996 đã trường thành nên không đặt ra giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Ngô Thị T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ. Căn cứ Điều 28, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đ.

Bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Xét thấy giữa bà T và ông Đ không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Do đó căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà T và ông Đ là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Y – sinh ngày 21/5/1996, hiện con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì bà Ngô Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1/ Không công nhận bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Y – sinh ngày 21/5/1996, hiện con chung đã đủ 18 tuổi, trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010982 ngày 04/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ