- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Lan N-Phung Van M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Lan N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Bản án số:638/2019/HNST Ngày: 14/6/2019 V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nở.
2. Bà Lê Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - 26 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 1276/2019/QĐST-DS ngày 12/3/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Lan N, sinh năm 1977; nơi cư trú: 14C-10 Tổ 1A, khu phố 1 T, phường T, Quận 02, Thành phố H (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phung Van M, sinh năm 1963; nơi cư trú: Bachstr 39 - 53115 Bonn G (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07/5/2018 và bản tự khai, nguyên đơn bà Trần Lan N trình bày:
Bà và ông Phung Van M tự nguyện đăng ký kết hôn số 3521 ngày 31/10/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 2017, ông Muoi đã đi định cư ở Đức.Vợ chồng đã không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc. Hôn nhân chỉ tồn tại về mặt pháp lý. Bà xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.
Về con chung: trẻ Phùng Ngọc Hoa Đ, sinh ngày 28/9/2009. Bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Phung Van M cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Trần Lan N có đơn xin không tham gia phiên họp hòa giải và đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Lan N ký đơn yêu cầu được ly hôn. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 quy định: “Vợ chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Ông Phung Van M đang cư trú ở nước ngoài. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
2. Xét yêu cầu của nguyên đơn: bà Trần Lan N và ông Phung Van M có đăng ký kết hôn. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Bà N xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.
Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo về việc Toà án thụ lý vụ án, triệu tập thời gian mở phiên họp hoà giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án. Tại công văn số 1461/BTP-PLQT ngày 22/5/2019 Bộ tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp: “Cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa liên bang Đức đã thực hiện tống đạt cho ông Phung Van M”.
Toà án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2019, thông báo thời gian mở phiên toà là ngày 12/3/2019. Quyết định đưa vụ án ra xét xử này đã được thông báo trong văn bản ủy thác tư pháp cho ông M nhưng ông M vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà lần thứ 1 theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và ấn định thời hạn mở phiên toà lần thứ hai là ngày 14/6/2019. Tuy nhiên, đến hôm nay, Toà án không nhận được ý kiến phản hồi của ông M và ông Mi tiếp tục vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành đúng trình tự quy định của pháp luật. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Xét thấy, cuộc sống chung của bà Ngọc và ông Muoi không hạnh phúc, cả hai thực tế đã không sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Muoi đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Toà để giải quyết vụ án, đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ. Đây là cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa bà N và ông M không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ khoản 1 Điều 122, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Lan N như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà.
Về con chung: Trẻ Phùng Ngọc Hoa Đ, sinh ngày 28/9/2009. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngọc được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, tạm thời không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 48 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Căn cứ khoản 1, Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án; khoản 08 Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí có hiệu lực, bà N phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Căn cứ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 122 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
Căn cứ Điều 48 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Căn cứ khoản 1, Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án; khoản 8 Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí có hiệu lực ngày 01/7/2009.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Lan N.
a) Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Lan N được ly hôn với ông Phung Van M.
Giấy chứng nhận kết hôn số 3521 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/10/2008 không còn giá trị pháp lý.
b) Về con chung: Bà Trần Lan N được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Phùng Ngọc Hoa Đ sinh ngày 28/9/2009. Ghi nhận việc bà Ngọc tạm thời không yêu cầu ông Phung Van M cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phung Van M không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được ngăn cản ông M thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
c) Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Lan N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0044522 ngày 11/5/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Lan N đã nộp đủ án phí.
3. Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Bà Trần Lan N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Phung Van Mđược quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Nhung Nguyễn Thị Nở
Châu Thị Điệp