vanban.org

Bản án 638/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phạm Thị Th.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Dương Phát T. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 58/2013 ngày 24/4/2013 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ph không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn chị Thơm, anh Tài"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phạm Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 638/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 27 - 11 - 2019
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn;

2. Ông Nguyễn Ngọc Bờ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 357/2019/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 453/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1995. (Có mặt).

Trú tại ấp Mỹ Qu, xã Mỹ Ph, huyện CP, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Dương Phát T, sinh năm 1982. (Vắng mặt).

Trú tại ấp Mỹ L, xã Mỹ Ph, huyện CP, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Phạm Thị Th trình bày: Chị và anh T tự tìm hiểu và chung sống từ năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ph năm 2013. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, thường cải vả nhau về kinh tế trong gia đình, đến giữa tháng 5/2017 thì chị Th về Vũng Tàu sống và vợ chồng ly thân đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị xin ly hôn với anh T.

Con chung: Có 02 con chung tên Dương Thị Tuyết H, sinh ngày 05/3/2011, Dương Phát L, sinh ngày 09/8/2013, 02 con đang ở với anh T, ly hôn chị Th yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

T sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, chị Th giữ y yêu cầu ly hôn, con chung đồng ý giao con cho anh T tiếp tục nuôi, chị Th không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có.

Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Th cho rằng chị và anh T không còn tình cảm, đã ly thân từ tháng 5/2017 đến nay. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Th yêu cầu ly hôn với anh T là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Dương Thị Tuyết H, sinh ngày 05/3/2011, Dương Phát L, sinh ngày 09/8/2013, sau khi vợ chồng ly thân đến nay con chung do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung và theo nguyện vọng của cháu H nên đề nghị giao 02 con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th không cấp dưỡng nuôi con. Anh T đang nuôi 02 con chung nhưng từ khi thụ lý vự án đến nay, anh T không có văn bản trình bày ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, nên đề nghị chấp nhận ý kiến của chị Th, sau này anh T có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu trong một vụ án khác.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Dương Phát T có hộ khẩu thường trú tại xã Mỹ Ph, huyện CP. Chị Ngọc khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn anh T được Tòa án nhân dân huyện CP tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Chị Th và anh T chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ph năm 2013, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn anh chị có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau chị Th và anh T xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, đã ly thân từ tháng 5/2017 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị Th xin ly hôn với anh T. Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa chị Th kiên quyết xin ly hôn với anh T. Tòa án đã triệu tập anh T để tiến hành hòa giải nhưng anh Luyến không đến tham dự. Hội đồng xét xử xét thấy anh T không có ý định hàn gắn quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th.

- Về con chung: Chị Th và anh T chung sống có 02 con chung tên Dương Thị Tuyết H, sinh ngày 05/3/2011, Dương Phát L, sinh ngày 09/8/2013 đang ở với anh T, tại phiên tòa ly hôn chị Th yêu cầu giao 02 con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu H và cháu L do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, theo nguyện vọng của cháu H muốn ở với anh T, và cũng theo yêu cầu của chị Th giao 02 con chung cho anh T tiếp tục nuôi. Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung tên Dương Thị Tuyết H, sinh ngày 05/3/2011, Dương Phát L, sinh ngày 09/8/2013 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không cấp dưỡng nuôi con, anh T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th là chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T nếu có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền kiện yêu cầu trong một vụ án khác.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Chị Th phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Phạm Thị Th.

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Dương Phát T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 58/2013 ngày 24/4/2013 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ph không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Dương Thị Tuyết H, sinh ngày 05/3/2011, Dương Phát L, sinh ngày 09/8/2013 cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001465 ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Cục thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ