vanban.org

Bản án 636/2025/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/05/2025 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Phan Nhã Đ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nhã Đ về việc yêu cầu hủy:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Phan Nhã Đ"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 205 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 636/2025/HC-PT
Ngày 22 tháng 5 năm 2025
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa Hiệp

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Công

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Châu Loan - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ lý số: 257/2025/TLPT-HC ngày 19 tháng 3 năm 2025 về“Khiếu kiện quyết định hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1239/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Phan Nhã Đ, sinh năm 1964 (có mặt);

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người bị kiện:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T

Địa chỉ: Số A, Đường A tháng E, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn H - Chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt);

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh;

Địa chỉ: Khóm D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Phong B - Chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt);

- Người kháng cáo: Người khởi kiện là ông Phan Nhã Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện, ông Phan Nhã Đ trình bày:

Vào năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh lập biên bản cho rằng ông Phan Nhã Đ liên kết với các đơn vị dạy nghề lập quỹ trái phép. Sau đó, Công an huyện C xác định ông Phan Nhã Đ lập quỹ khống, đến năm 2019 Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ra quyết định thu hồi số tiền này nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh là ông Phan Nhã Đ có sai phạm. Sự việc tại Trung tâm dạy nghề đã được giải quyết từ năm 2014 nhưng đến năm 2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 thu hồi số tiền 64.989.800 đồng là quá thời hạn giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại.

Trong tổng số tiền mà buộc ông Phan Nhã Đ nộp theo bảng kê của Giám định viên tư pháp Tiêu Nghĩa Dũng lập có một số khoảng tiền không hợp lý, như tiền đi công tác của cán bộ khác, tiền mua trái cây, không phải ông sử dụng cũng bắt ông nộp tiền là không phù hợp. Báo cáo của ông D là không có ghi số báo cáo, không có ngày kiểm định, không có chữ ký đóng dấu của thủ trưởng cơ quan kiểm định, bản kê trong báo cáo không có kiểm chứng. Không đồng ý với Quyết định thu hồi số tiền 64.989.800 đồng nên ông Phan Nhã Đ tiếp tục khiếu nại thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không chấp nhận yêu cầu của ông. Ông Phan Nhã Đ tiếp tục khiếu nại lần 2 đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T, Chủ tịch UBND tỉnh T không chấp nhận đơn khiếu nại của ông.

Không đồng ý với các quyết định trên ông Phan Nhã Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, yêu cầu hủy Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21/10/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc giải quyết khiếu nại lần đầu và hủy Quyết định số 431/QĐ-UBND ngày 24/02/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Phan Nhã Đ.

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh trình bày ý kiến như sau:

Ngày 10/7/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 144/QĐ-UBND về việc thanh tra việc quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh. Ngày 02 tháng 10 năm 2012 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành kết luận thanh tra số 27/KL-UBND về việc quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh sau đó Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Công văn số 124/UBND- NC về việc chuyển vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật. Ngày 21/11/2014 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 37 không khởi tố vụ án hình sự đối vụ “Tham ô tài sản” xảy ra từ năm 2009 đến năm 2011 tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Năm 2017, Đoàn công tác số 6, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng tiến hành giám sát việc khởi tố, điều tra các vụ án tham nhũng kinh tế nghiêm trọng, phức tạp dư luận quan tâm trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Qua kiểm tra đoàn đã đề nghị xem xét xác minh đầy đủ các nội dung sai phạm được nêu trong Kết luận thanh tra số 27/KL-UBND ngày 02/10/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thực hiện theo đề nghị trên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh tiến hành xác minh điều tra làm rõ các sai phạm của Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh về hành vi lập quỹ trái phép và hành vi tham ô tài sản qua kết quả điều tra trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011 ông Phan Nhã Đ phó giám đốc Trung tâm Dạy nghề huyện C, tỉnh Trà Vinh đã chỉ đạo cấp dưới để ngoài sổ sách kế toán các khoản tiền thu được từ hoạt động đào tạo nghề, hoạt động liên kết đào tạo và các khoản thu khác với tổng số tiền 141.776.300 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ban hành quyết định số 31 trưng cầu Sở Tài chính giám định tài chính kế toán đối với các khoản thu chi để ngoài sổ sách kế toán tại trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm huyện C giai đoạn năm 2009 đến 2011 tại Báo cáo kết quả của Giám định viên tư pháp về lĩnh vực tài chính kế toán của Sở T đối với việc quản lý thu chi tài chính kế toán của Trung tâm dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C là xác định nội dung chi sai nguyên tắc tài chính số tiền là 64.989.800 đồng. Với sai phạm trên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C xác định với nội dung ông Phan Nhã Đ gây thiệt hại tài sản Nhà nước là 64.989.800 đồng hành vi của ông Phan Nhã Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội lập quỹ trái phép theo khoản 1 Điều 166 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2016 của Quốc hội thì cần phải áp dụng khoản 1 điều 205 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 Căn cứ vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội giai đoạn 2009 đến 2011 đến ngày 22/8/2017 thì hành vi lập quỹ trái phép của ông Phan Nhã Đ đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a khoản 2 điều 23 của bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và điểm a khoản 2 điều 27 bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngày 05/11/2018 Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 20 về việc không khởi tố vụ án hình sự và có Công văn số 01/CQĐT về việc chuyển các tài liệu có liên quan của vụ việc đến cơ quan kiểm tra thanh tra huyện C tỉnh Trà Vinh để xem xét thu hồi số tiền 64.989.800 đồng chi sai quy định.

Ngày 05/6/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 2358/QĐ-UBND về việc thu hồi số tiền 64.989.800 đồng của ông Phan Nhã Đ. Ngày 12/6/2019, ông Phan Nhã Đ có đơn khiếu nại, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019. Ngày 11/10/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tổ chức đối thoại với người khiếu nại là ông Phan Nhã Đ, qua đối thoại ông Phan Nhã Đ không thống nhất kết quả xác minh, không cung cấp được các thông tin, tài liệu, chứng cứ mới để làm cơ sở giải quyết khiếu nại. Ngày 21/10/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 7166/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Nhã Đ. Từ những nội dung trên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 và Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21/10/2021 là đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nhã Đ.

Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T trình bày ý kiến như sau:

Việc khiếu nại của ông Phan Nhã Đ đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh thành lập tổ xác minh gồm các cơ quan, đơn vị có liên quan để tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và đã ban hành Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21/10/2021 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Nhã Đ. Ông Phan Nhã Đ không thống nhất với kết quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh nên tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T. Ngày 24/02/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Phan Nhã Đ là đúng quy định của pháp luật.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

Căn cứ Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nhã Đ về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05 tháng 6 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi tiền của ông Phan Nhã Đ.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nhã Đ về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Phan Nhã Đ.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nhã Đ về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 431/QĐ-UBND ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Phan Nhã Đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 21/01/2025, người khởi kiện là ông Phan Nhã Đ kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người khởi kiện là ông Phan Nhã Đ trình bày:

Vi phạm tài chính xảy ra và giải quyết từ năm 2009 - 2010, không phải năm 2011 như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Năm 2014, 2015, Cơ quan tiến hành tố tụng, đại diện UBND huyện C, Chi bộ 02 Trường tiểu học H1 và Ninh Thới B1 cùng các cơ quan chức năng khác đã xác định ông không có sai phạm. Tuy nhiên đến năm 2019 thì Chủ tịch UBND huyện C lại ban hành Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 để thu số tiền 64.989.800 đồng là đã quá thời hạn, thời hiệu theo quy định của luật. Bên cạnh đó, không có chứng từ thu - chi hay chứng cứ nào thể hiện việc ông đã ký nhận và ký chi số tiền nêu trên, buộc một mình ông phải nộp lại số tiền này là không có căn cứ.

Giám định viên không đủ năng lực, báo cáo kết quả giám định quản lý thu chi tài chính kế toán không ghi số, không ghi ngày tháng năm và số liệu không chính xác nên không đảm bảo tính xác thực của chứng cứ. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh có văn bản trả lời không có sai phạm. Hàng năm ông vẫn được xét nâng lương, khen thưởng, không bị hình thức kỷ luật. Việc ông làm đều dựa theo chủ trương của UBND huyện C, UBND tỉnh T, đều vì lợi ích chung, không vi phạm quy chế chi tiêu cũng như làm thất thoát ngân sách Nhà nước hay ảnh hưởng đến Trung tâm dạy nghề.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Ngày 05/11/2018, Công an huyện C đã xác định ông Phan Nhã Đ có sai phạm về hành vi lập quỹ trái phép và hành vi tham ô tài sản, gây thiệt hại số tiền 64.989.800 đồng đối với tài sản của Nhà nước. Hành vi nêu trên của ông Đ đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Lập quỹ trái phép” theo khoản 1 Điều 166 của Bộ luật hình sự năm 1999. Năm 2017, Đoàn công tác số 6, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng xác định hành vi của ông Đ đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không ban hành quyết định khởi tố vụ án. Ngày 22/11/2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Công văn số 01/CQĐT về việc chuyển các tài liệu có liên quan của vụ việc đến cơ quan Kiểm tra - Thanh tra huyện C, tỉnh Trà Vinh để xem xét thu hồi số tiền 64.989.800 đồng chi sai quy định. Căn cứ khoản 8 Điều 65 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 thì khoản thu trái phép phải được hoàn trả cho cơ quan Nhà nước. Do đó, Chủ tịch UBND huyện C và Chủ tịch UBND tỉnh T ban hành các quyết định hành chính đối với ông Phan Nhã Đ là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Toàn bộ diễn biến vụ án như phần tóm tắt nội dung đã được viện dẫn ở trên. Xét kháng cáo của ông Phan Nhã Đ, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:

Về tố tụng:

Người bị kiện Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh; Chủ tịch UBND tỉnh T vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh và Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21/10/2021 cùng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc thu hồi tiền và giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Phan Nhã Đ; Quyết định số 431/QĐ-UBND ngày 24/02/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Phan Nhã Đ là các quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Ngày 08/3/2022, ông Phan Nhã Đ khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính nêu trên là còn thời hiệu khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Về nội dung: Xét trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính bị khởi kiện

Ngày 10/7/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 144/QĐ-UBND về việc thanh tra việc quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 02/10/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Kết luận thanh tra số 27/KL-UBND về việc quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh sau đó Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Công văn số 124/UBND- NC về việc chuyển vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/11/2014, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 37 không khởi tố vụ án hình sự “Tham ô tài sản” xảy ra từ năm 2009 đến năm 2011 tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Năm 2017, Đoàn công tác số 6 thuộc Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng tiến hành giám sát việc khởi tố, điều tra các vụ án tham nhũng kinh tế nghiêm trọng, phức tạp dư luận quan tâm trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Qua kiểm tra đoàn đã đề nghị xem xét xác minh đầy đủ các nội dung sai phạm được nêu trong Kết luận thanh tra số 27/KL-UBND ngày 02/10/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Thực hiện theo đề nghị trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh tiến hành xác minh điều tra làm rõ các sai phạm của Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh về hành vi lập quỹ trái phép và hành vi tham ô tài sản qua kết quả điều tra trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011 ông Phan Nhã Đ - Phó giám đốc Trung tâm Dạy nghề huyện C, tỉnh Trà Vinh đã chỉ đạo cấp dưới để ngoài sổ sách kế toán các khoản tiền thu được từ hoạt động đào tạo nghề, hoạt động liên kết đào tạo và các khoản thu khác với tổng số tiền 141.776.300 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ban hành Quyết định số 31 ngày 09/7/2018 trưng cầu Sở Tài chính giám định tài chính kế toán đối với các khoản thu chi để ngoài sổ sách kế toán tại Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, tỉnh Trà Vinh giai đoạn năm 2009 đến 2011.

Tại Báo cáo kết quả của Giám định viên tư pháp về lĩnh vực tài chính kế toán của Sở Tài chính tỉnh T đối với việc quản lý thu chi tài chính kế toán của Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm huyện C, xác định nội dung chi sai nguyên tắc tài chính số tiền là 64.989.800 đồng (trong đó, chi sai nguyên tắc tài chính 58.046.500 đồng và số tiền quỹ còn tồn không có chứng từ và không nhớ nội dung chi là 6.943.300 đồng); ông Phan Nhã Đ cũng thừa nhận và xin khắc phục số tiền chi sai.

Với sai phạm trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh xác định với nội dung ông Phan Nhã Đ gây thiệt hại tài sản nhà nước là 64.989.800 đồng; hành vi của ông Phan Nhã Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “lập quỹ trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 166 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2016 của Quốc hội thì cần phải áp dụng khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, căn cứ vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội giai đoạn 2009 - 2011 tính đến ngày 22/8/2017 thì hành vi “lập quỹ trái phép” của ông Phan Nhã Đ đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và điểm a khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 22/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh có Công văn số 01/CQĐT về việc chuyển các tài liệu có liên quan của vụ việc đến cơ quan Kiểm tra - Thanh tra huyện C, tỉnh Trà Vinh để xem xét thu hồi số tiền 64.989.800 đồng chi sai quy định.

Căn cứ khoản 8 Điều 65 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 quy định: “Những khoản thu ngân sách nhà nước không đúng với quy định của pháp luật phải được hoàn trả cho cơ quan tổ chức đơn vị cá nhân đã nộp; những khoản thu ngân sách của nhà nước chưa thu phải được truy thu đầy đủ cho ngân sách; những khoản chi ngân sách nhà nước không đúng với quy định của pháp luật phải được thu hồi đủ cho ngân sách”. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 về việc thu hồi số tiền 64.989.800 đồng mà ông Phan Nhã Đ đã chi sai nguyên tắc là đúng quy định của pháp luật.

Không đồng ý, ngày 12/6/2019, ông Phan Nhã Đ có đơn khiếu nại, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 2358/QĐ-UBND nêu trên.

Ngày 11/10/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tổ chức đối thoại với người khiếu nại là ông Phan Nhã Đ. Qua đối thoại, ông Phan Nhã Đ không thống nhất kết quả xác minh nhưng không cung cấp được các thông tin, tài liệu, chứng cứ mới để làm cơ sở giải quyết khiếu nại.

Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ban hành Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21/10/2021 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Nhã Đ (lần 1) và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số 431/QĐ-UBND ngày 24/02/2022 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phan Nhã Đ (lần hai) là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 18, Điều 21 và các Điều 27, 29, 30, 31, 32, 36, 37, 38, 39, 40 Luật khiếu nại năm 2011.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Nhã Đ, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Người khởi kiện ông Phan Nhã Đ phải chịu do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận. Tuy nhiên, ông Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho ông Đ theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Phan Nhã Đ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nhã Đ về việc yêu cầu hủy:

- Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 05 tháng 6 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc thu hồi tiền của ông Phan Nhã Đ.

- Quyết định số 7166/QĐ-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Phan Nhã Đ.

- Quyết định số 431/QĐ-UBND ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của ông Phan Nhã Đ.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phan Nhã Đ được miễn.

3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ