- Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Nguyễn Văn B kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò D về Khiếu kiện quyết định về xử phạt vi phạm hành chính"
- Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh S; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 29/2023/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây N như sau:
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 633/2024/HC-PT Ngày 25/6/2024 V/v khiếu kiện Quyết định về xử phạt vi phạm hành chính |
NHÂN DANH
Độc lập
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Tự do
- Hạnh
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
phúc
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý
Các thẩm phán:
Ông Vương Minh Tâm
Ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên cao cấp.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần tỉnh Tây N, xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 154/2024/TLPT-HC ngày 01 tháng 3 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định về xử phạt vi phạm hành chính”;
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 29/2023/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây N bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1780/2024/QĐXXPT-HC ngày 25 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1963; cư trú tại: Ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; có đơn xử xin vắng mặt.
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò D, tỉnh Tây N; có đơn vắng mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Trọng Nh - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gò D; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1985; cư trú tại: Số 37 đường Xuân H, k p 1, phường Long H, thị xã Hòa Th, tỉnh Tây N; có mặt.
- Bà Đoàn Thị R, sinh năm 1965; cư trú tại: Ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; có đơn xử xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp Suối C A, xã Phước Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị N sinh năm 1977; địa chỉ: ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp 7, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà N và bà L: Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1992; cư trú tại: Số 223B Hoàng Văn T, P 8, quận Phú N, TP. Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh S là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn B trình bày:
Năm 2004, gia đình ông Nguyễn Văn B và gia đình của anh Nguyễn Minh S quen biết nhau khi con của ông B là Nguyễn Thanh H đi nghĩa vụ quân sự cùng anh S. Năm 2010, ông B có vay của anh S 170.000.000 đồng để kinh doanh và có giao cho anh S 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin, hẹn 03 tháng trả nợ. Phần đất diện tích 2.874m2, thửa đất số 82, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N. Do đến hạn trả nợ nhưng chưa có tiền trả nên ông B và anh S thỏa thuận ông B chuyển nhượng cho anh S phần đất trên với giá 550.000.000 đồng để giải quyết số nợ trên và hai bên có làm giấy chuyển nhượng ngày 13/3/2011. Gia đình ông B đã thu dọn số cây đã trồng trên đất, giao đất cho anh S sử dụng từ 30/3/2011 cho đến nay, anh Sang đã xây dựng 01 chuồng bò, nhà cấp 4C và cây ăn trái trên đất.
Đến sáng ngày 26/6/2019, ông B nhận Thông báo cưỡng chế số 70/TB-UBND ngày 21/6/2019 của Chủ tịch UBND huyện Gò D, nội dung: Về việc tổ chức cưỡng chế hành chính. Đến ngày 02/7/2019, ông Be đến UBND huyện Gò D yêu cầu cung cấp Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 144/QĐ-XPVPHC ngày 06/8/2018 của Chủ tịch UBND huyện Gò D, ông B mới biết được bị xử phạt về hành vi chiếm đất của người khác, diện tích 2.114,3m2, thuộc một phần diện tích các thửa số 603, 604, 605, 606, 607, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; hình phạt chính: 2.000.000 đồng; các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ông Nguyễn Văn B phải thu dọn số cây đã trồng, trả lại diện tích đất lấn chiếm; khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm.
Do không có thực hiện hành vi vi phạm nên ông B yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số: 144/QĐ-XPVPHC ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò D, tỉnh Tây N.
Người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện Gò D, tỉnh Tây N có đơn xin vắng mặt.
Tại Quyết định số: 2726/QĐ-HB ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Gò D, tỉnh Tây N. Huỷ bỏ Quyết định số: 144/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 của Chủ tịch Uỷ ban nhân huyện Gò D, tỉnh Tây N về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1963; địa chỉ: ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N. Lý do huỷ bỏ Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 06/8/2018, không đúng đối tượng vi phạm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Minh S trình bày:
Ông Sang thống nhất theo lời trình bày của ông B về việc có quen biết từ năm 2004, năm 2010 có cho ông Be vay 170.000.000 đồng. Do không có khả năng trả nợ nên đến ngày 13/3/2011 hai bên có lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đó ông B chuyển nhượng phần đất diện tích 2.874,0m2 cho anh S. Ngày 13/3/2011, anh S và gia đình ông B có lập biên bản bàn giao đất, hai bên thỏa thuận ông B và vợ ông B là bà R giao cho anh Sang diện tích 2.874,0 m2 và gia đình ông B có trách nhiệm di dời các tài sản trên đất trong thời hạn 06 tháng. Gia đình ông B, bà R đã giao đất đến nay không ai tranh chấp, hiện trạng sử dụng không thay đổi, trong thời hạn 06 tháng ông B đã di dời các tài sản trên đất, ông B không lấn chiếm diện tích 2.114,3m2 và không trồng cây ăn quả trên đất.
Anh S đã xây dựng nhà cấp 4 ở trên đất từ tháng 4/2011 cho đến nay, trên đất có trồng cây ăn trái là xoài, chanh và nhãn. Đến tháng tháng 3/2018 anh S có thuê ông Đ làm lại chuồng bò và làm bồn nước. Đến sáng ngày 26/6/2019, ông Be, bà R gọi điện báo cho anh S biết đã bị UBND huyện thông báo cưỡng chế tài sản của anh S xây dựng trên đất. Chiều ngày 28/6/2019, anh S đến phần đất thì phát hiện toàn bộ cây ăn trái trên đất bị chặt phá, chuồng nuôi bò bị tháo dỡ và có 01 hàng rào xây dựng hình thành trên phần đất của anh S. Anh S có làm đơn trình báo ngày 28/6/2019 gửi đến Trưởng ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D thì ông Trưởng ấp và Bí thư ấp nói UBND huyện Gò D xây dựng, anh S yêu cầu lập biên bản thì được trả lời đã điện thoại báo cáo với bà Chủ tịch UBND xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N nhưng từ ngày 28/6/2019 đến nay chưa được giải quyết.
Anh S xác định từ ngày 30/3/2011 cho đến nay anh S là người trực tiếp quản lý sử dụng đất không ai tranh chấp. Hiện nay, anh Sang đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý sử dụng đất. Anh S xác định gia đình ông B không có hành vi vi phạm hành chính là chiếm đất diện tích 2.114,3m2, thuộc một phần diện tích các thửa số 603, 604, 605, 606, 607 tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D. Ủy ban nhân dân huyện Gò D đã xử phạt 2.000.000 đồng; buộc ông B số cây đã trồng, trả lại diện tích đã lấn chiếm; khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm là sai trái, không đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, anh S yêu cầu xác minh các thửa số 603, 604, 605, 606, 607 tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D và phần đất diện tích 2.874,0 m2 là của ai và ai là người xem xét xử lý vi phạm hành chính; đề nghị Tòa án xem xét thực tế hiện trạng đất; yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số: 144/QĐ-XPVPHC ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò D, tỉnh Tây N theo yêu cầu của ông B và yêu cầu xem xét bồi thường thiệt hại thực tế là 90.000.000 đồng.
Tại Bản án hành chính số 29/2023/HC-ST ngày 13/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Tây N quyết định:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số: 144/QĐ-XPVPHC ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò D, tỉnh Tây N.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/9/2023 ông Nguyễn Minh S kháng cáo bản án sơ thẩm và cho rằng có yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản bị phá bỏ thiệt hại 90.000.000 đồng nhưng không xem xét mà tách ra giải quyết bằng một vụ án khác là vi phạm khoản 1 Điều 7 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Tại phiên tòa ông S vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo; đề nghị xem xét đơn kháng cáo của ông S để xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung kháng cáo của ông S, Chủ tịch UBND huyện Gò D hủy bỏ quyết định xử phạt hành chính, nay ông Sang yêu cầu bồi thường thiệt hại, do chưa xác định được đối tượng vi phạm nên Chủ tịch UBND huyện Gò D rút quyết định xử phạt, nên Tòa án cấp sơ thẩm tách nội dung bồi thường giải quyết bằng một vụ án khác là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của ông S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
- Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh S đúng theo quy định của pháp luật, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Ngày 06/8/2018, Chủ tịch UBND huyện Gò D, tỉnh Tây N ban hành Quyết định số 144/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn B, đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Chiếm đất (tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác, diện tích 2.114,3m2, thuộc một phần diện tích các thửa số 603, 604, 605, 606, 607, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N; hình thức xử phạt chính: 2.000.000 đồng; các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ông Nguyễn Văn B phải thu dọn số cây đã trồng, trả lại diện tích đất lấn chiếm; khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm. Tại Quyết định số: 2726/QĐ-HB ngày 18/8/2023 của Chủ tịch UBND huyện Gò D, tỉnh Tây N huỷ bỏ Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 của Chủ tịch UBND huyện Gò D, tỉnh Tây N về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn B; lý do huỷ bỏ Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 do không đúng đối tượng vi phạm.
. Ông Nguyễn M Sang cho rằng Chủ tịch UBND huyện Gò D, tổ chức cưỡng chế hành chính trên diện tích 2.114,3m2, thuộc một phần diện tích các thửa số 603, 604, 605, 606, 607, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại ấp 3, xã Bàu Đ, huyện Gò D, tỉnh Tây N làm thiệt hại tài sản cây trái, công trình trên đất của ông Nguyễn Minh S trị giá 90.000.000 đồng; lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải giải quyết luôn trong vụ án này. Tuy nhiên, do ông Nguyễn Minh S chưa cung cấp đầy đủ tài liệu về thiệt hại thực tế; do chưa xác định được đối tượng vi phạm hành chính nên Chủ tịch UBND huyện Gò D rút quyết định xử phạt hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm dành quyền cho ông Nguyễn Minh S được khởi kiện bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự là phù hợp với khoản 2 Điều 7 Luật tố tụng hành chính năm 2015. Ông Nguyễn Minh S có yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng Tòa án chưa xem xét, nên thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Minh S được tính lại từ ngày tuyên án là phù hợp.
. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh S, giữ nguyên bản án sơ thẩm; ông Nguyễn Minh S phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh S; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 29/2023/HC-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây N như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số: 144/QĐ-XPVPHC ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò D, tỉnh Tây N.
2. Dành quyền cho ông Nguyễn Minh S được khởi kiện bằng một vụ án khác, về việc bồi thường thiệt hại tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự (thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Minh S được tính từ ngày tuyên án).
3. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000988 ngày 12 tháng 7 năm 2019 và 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001376 ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây N.
Hoàn trả cho anh Nguyễn Minh S số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số: 0001379 ngày 13 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây N.
II. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh S phải nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000122 ngày 24/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây N.
III. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN Vương Minh Tâm - Nguyễn Văn Minh
Đặng Văn Ý
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Tây N; - VKSND tỉnh Tây N; - Cục THADS tỉnh Tây N; - Các đương sự; - Lưu VP, HS - NTTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Ý |