vanban.org

Bản án 630/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th1, ông Trần Văn Th, à Hoàng Th Mai L1, à Nguyễn Th V. Sửa Bản án số 143/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện DT như sau:

Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của à Trần Th H đối với à Nguyễn Th Xuân Đào về việc yêu cầu à Đào thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 56 2, thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19 tọa lạc tại ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện DT … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "bà H kiện bà Đ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th1, ông Trần Văn Th, à Hoàng Th Mai L1, à Nguyễn Th V. Sửa Bản án số 143/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện DT như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Luật Đất đai nă; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 630/2024/DS-PT
Ngày 23-12-2024
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Th phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Th Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Sỹ Trứ

Ông Nguyễn Văn Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Bình Dư ng tham gia phiên tòa: ông Trần Đức Thoại - iể sát viên.

Ngày 23 tháng 12 nă 2024, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, t ử phúc th công khai vụ án dân sự thụ lý số 518/2024/TLPT-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ th số 143/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra t ử số 493/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 nă 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Th H, sinh nă 1948; đ a chỉ: ấp Lâ Vồ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nghe:

1. Bà Trần Th T, sinh nă 1943; đ a chỉ: Ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

2. Bà Trần Th H, sinh nă 1948; đ a chỉ: ấp Lâ Vồ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

3. Ông Trần Văn Th, sinh nă 1952; đ a chỉ: số 80B, đường Lý Chính Thắng, Phường VT, Quận 3, Th phố Hồ Chí Minh; có ặt.

4. Ông Trần Văn Th1, sinh nă 1956; đ a chỉ: ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có ặt.

5. Bà Trần Th V, sinh nă 1961; đ a chỉ: ấp Lâ Vồ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có ặt.

6. Bà Trần Th D, sinh nă 1964; đ a chỉ: ấp Dòng Sỏi, phường AT, thành phố BC, tỉnh Bình Dương; có ặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Th Xuân Đào, sinh nă 1972; đ a chỉ: ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Th V, sinh nă 1958; đ a chỉ: ấp Phú Hiệp, ã PPM, huyện C, Th phố Hồ Chí Minh; ủy quyền cho à Hoàng Th Mai L1, sinh nă 1963; đ a chỉ: ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 24/3/2021); có đơn in vắng ặt.

2. Bà Bồ Th H1, sinh nă 1958; đ a chỉ: ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

3. Bà Hoàng Th Mai L1, sinh nă 1963; đ a chỉ: ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

4. Ông Lê Trần Th1, sinh nă 1971; đ a chỉ: khu phố 2, th trấn DT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; đ a chỉ liên hệ: ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có đơn in vắng ặt.

5. Ủy an nhân dân ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương; có văn ản đề ngh t ử vắng ặt.

6. Ủy an nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương; có văn ản đề ngh t ử vắng ặt.

- Người kháng cáo: nguyên đơn à Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th1, ông Trần Văn Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Th V, à Hoàng Th Mai L1.

NỘI DUNG V ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2021 và đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 05/9/2022, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng nhƣ tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị H và ngƣời đại diện hợp pháp cũng là ngƣời kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Nghe đồng thời cũng là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Trần Thị V trình bày:

Bà Nguyễn Th Nghe (sinh nă 1921, chết ngày 20/6/2023) có chồng tên Trần Văn Hái (sinh nă 1919, chết nă 1996). Bà Nghe và ông Hái có 08 người con, cụ thể: Trần Th T, sinh nă 1943; Trần Th H, sinh nă 1948; Trần Văn Th, sinh nă 1952; Trần Văn Th1, sinh nă 1955; Trần Th hanh (sinh nă 1956, chết nă 2009); Trần Th V, sinh nă 1961; Trần Th D, sinh nă 1964 và Trần Văn Thy (Thi, sinh nă 1967, chết nă 2019). Bà Đào là con gái của bà T, à Đào là cháu gọi ông Thy (Thi) là cậu, à Đào gọi à Nghe là à ngoại.

Thời điể kh i kiện, ông Trần Văn Thy (Thi) đã chết, ông Thy (Thi) không có vợ con, chỉ có à Nghe là người thừa kế duy nhất theo hàng thừa kế thứ nhất. Bà Nghe đã Tòa án nhân dân (TAND) huyện DT tuyên ố ất năng lực hành vi theo Quyết đ nh số 16/2020/QĐST-VDS ngày 19/11/2020. Bà H là người giá hộ đương nhiên của à Nghe theo Trích lục đăng ký giá hộ số 04/TLGH ngày 29/12/2020 của UBND ã TT.

Hiện nay, à Nghe đã chết vào ngày 06/8/2023 nên những người kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của à Nghe gồ : Bà Trần Th T, à Trần Th H, ông Trần Văn Th, ông Trần Văn Th1, à Trần Th V, à Trần Th D tiếp tục tha gia giải quyết vụ án.

Để ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho à Nghe và thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho à Nguyễn Th V nên bà H đại diện cho à Nghe kh i kiện à Đào, cụ thể:

Vào nă 2002, UBND ã TT có thực hiện việc án đấu giá quyền sử dụng đất, khu đất chợ Bến Súc, khi đó ông Thy (Thi) và à Nghe ua được ột phần đất có diện tích 56m2 (đất ) thuộc thửa đất số 240, tờ ản đồ số 19 tọa lạc tại ấp 3 (ấp Chợ), ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương và được UBND huyện DT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00077/QSDĐ/QĐ-UB ngày 06/02/2002 cho hộ ông Trần Văn Thy đứng tên, đất này là dùng để là ặt ằng kinh doanh uôn án. Trong hộ ông Thy (Thi) thời điể nă 2002 gồ có à Nguyễn Th Nghe và ông Trần Văn Thy (Thi).

Bà T là ẹ của à Đào có ua ột thửa đất giáp với thửa đất số 240 (không iết số thửa) và à T tặng cho à Đào thửa đất này; đồng thời, à Đào cũng ua được ột thửa đất số 745 gần với thửa đất nói trên. Do à Đào có nhu cầu

rộng cửa hàng tạp hóa để kinh doanh nên vào nă 2005, à Đào có thỏa thuận đổi thửa số 745 của à Đào để lấy thửa số 240 của ông Thy (Thi) và hai ên đã tiến hành giao nhận đất với nhau. Sau đó, à Đào nhập thửa số 240 vào thửa đất của à T tặng cho à Đào để ây dựng thành ột cửa hàng tạp hóa như hiện nay; ngược lại, ông Thy (Thi) tiến hành ây nhà trên thửa đất số 745 và là cửa hàng án quần áo, việc này thể hiện ông Thy (Thi) có là thủ tục in cấp điện, nước để sử dụng. Tại thời điể thỏa thuận, thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19 có diện tích 56 2 (đất ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H 02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 được UBND huyện DT cấp cho à Nguyễn Th Xuân Đào. Hai ên đã àn giao ản gốc của 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhau nhưng chưa tiến hành là thủ tục sang tên.

Tháng 01/2010, ông Thy (Thi) ang ản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên à Đào để cầ cố cho à Nguyễn Th V để vay khoản tiền 200.000.000 đồng (hai tră triệu đồng) lấy vốn là ăn. Do ông Thy (Thi) không có khả năng trả nợ nên à Nguyễn Th V kh i kiện ông Thy (Thi) và được TAND huyện DT giải quyết ằng Quyết đ nh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 177/2010/QĐST-DS ngày 26/7/2010, theo đó uộc ông Thy (Thi) trả cho à Nguyễn Th V số tiền 206.000.000 đồng và à Nguyễn Th V có trách nhiệ trả lại ản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên à Đào cho à Đào (vì à Đào là người đứng tên trên giấy chứng nhận). Bà Nguyễn Th V đã là đơn yêu cầu thi hành án nhưng ông Thy (Thi) vẫn chưa thanh toán hết khoản tiền nợ cho à Nguyễn Th V nên cho đến nay à Nguyễn Th V vẫn còn cất giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H 02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005.

Trong quá trình TAND huyện DT thụ lý giải quyết vụ việc tranh chấp giữa à Nguyễn Th V và ông Thy (Thi), thì à Đào sợ cơ quan thi hành án sẽ phát ãi thửa đất số 240 do ông Thy (Thi) đứng tên nên à Đào yêu cầu ông Thy (Thi) là thủ tục sang tên thửa đất số 240 cho à Đào và à Đào là thủ tục sang tên với hình thức là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được UBND ã TT chứng thực vào ngày 20/5/2010 và được UBND huyện DT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH 00390/QSDĐ/QĐ-UB ngày 30/6/2010 và thửa đất số 240 được sửa đổi thành thửa 237. Đối với thửa đất số 745 à Đào đang đứng tên thì ông Thy (Thi) có yêu cầu à Đào là thủ tục sang tên cho ông Thy (Thi) nhưng à Đào nói nếu sang tên cho ông Thy (Thi) thì sẽ cơ quan thi hành án phát ãi trả nợ cho à Nguyễn Th V nên cứ để à Đào đứng tên giù thì ông Thy (Thi) đồng ý.

Đến nă 2018, do ông Thy (Thi) vay nhiều khoản nợ và phải thực hiện trả nợ cho à Nguyễn Th V nên có yêu cầu à Đào là thủ tục sang tên cho ông Thy (Thi) để ông Thy (Thi) án nhà đất trả nợ thì à Đào không đồng ý. hi đó, ông Thy (Thi) nói “Nếu không cho tao án thì tao không còn gì cả, tao sẽ ua ăng đổ lên người rồi châ lửa chạy vào tiệ tạp hóa của ày để tự thiêu để ày cũng không còn gì như tao”. Cùng nă 2018, tại nhà à T do à Đào sợ nên kêu các cậu, dì (ông Th, bà D, …) về họp gia đình gấp. Tại uổi họp gia đình, à Đào nói “Cậu Thy (Thi) ê cờ ạc, ê ê đê, cậu Thy bán nhà giá rẻ còn mất tiền cò, con chỉ giữ dùm giấy tờ nhà cửa của cậu Thy (Thi) để qua nǎ coi lại giá cả cậu, dì đồng ý con ký cho cậu Thy (Thi) án”. Do, đất thực tế là của ông Thy (Thi) nhưng do ông Thy (Thi) ha chơi nên các cậu, dì sợ ông Thy (Thi) tiêu ài không còn đất để và khi nghe à Đào yêu cầu giữ đất thay ông Thy (Thi) thì các cậu, dì cũng đồng ý vì các cậu, dì đều a chỉ có à Đào là con cháu trong gia đình và gần nhà của ông Thy (Thi). Ngày 23/01/2019, ông Thy (Thi) tai nạn chết ất ngờ đến nă 2021 các cậu, dì ới yêu cầu à Đào ua lại nhà đất của ông Thy (Thi) thì à Đào không đồng ý.

Để ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho à Nghe và thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho à Nguyễn Th V nên bà H đại diện cho à Nghe kh i kiện yêu cầu à Đào tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thực chất là đổi quyền sử dụng đất) đối với phần đất có diện tích 56m2 (ONT) thuộc thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19 được UBND huyện DT cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 cho à Nguyễn Th Xuân Đào; đồng thời uộc à Đào phải sang tên cho à H là người giá hộ đương nhiên của à Nghe.

Bà H và bà V thống nhất và đề ngh Tòa án sử dụng kết quả theo: ết luận giá đ nh số 4507/C09B ngày 15/11/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại Th phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an; Biên ản e

t, th đ nh tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 29/01/2021 và ngày 15/4/2022 do TAND huyện DT lập; Mảnh trích lục đ a chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 109-2021 ngày 12/3/2021 và số 958-2022 ngày 28/4/2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện DT lập và Biên ản đ nh giá tài sản tranh chấp ngày 15/4/2021 và ngày 08/9/2022 của Hội đồng đ nh giá tài sản tranh chấp để giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

Chứng cứ nguyên đơn bà H và à Trần Th V cung cấp: Đơn kh i kiện ngày 12/01/2021 và đơn thay đổi yêu cầu kh i kiện ngày 05/9/2022 của à H ( ản gốc); Quyết đ nh sơ th giải quyết việc dân sự số 16/2020/QĐST-VDS và Trích lục quyết đ nh số 02/VDS-TLQĐ của TAND huyện DT ( ản gốc); Trích lục khai sinh của à H ( ản sao); H TT và CMND của à H ( ản sao); Trích lục đăng ký giá hộ của à H ( ản gốc); Trích lục khai sinh và Trích lục khai tử của à Nguyễn Th Nghe ( ản sao); Giấy khai sinh của ông Trần Văn Thy ( ản sao); Đơn in tự thương lượng tranh chấp nợ, Giấy ca kết ngày 12/5/2010, Giấy ủy quyền ngày 24/4/2010, Giấy ủy quyền ngày 12/5/2010 của ông Trần Văn Thy ( ản sao); Quyết đ nh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 177/2010/QĐST-DS của TAND huyện DT ( ản sao); Quyết đ nh về việc đình chỉ thi hành án số 59/QĐ-CCTHADS của Chi cục Thi hành án dân sự huyện DT ( ản sao); Quyết đ nh thi hành án theo đơn yêu cầu số 618/QĐ-CCTHA của Chi cục Thi hành án dân sự huyện DT ( ản sao); Đơn yêu cầu ác inh ngày 13/10/2014 của à Hoàng Th Mai L1 ( ản sao); Bản tự khai ngày 31/12/2020, ngày 14/10/2021, ngày 04/4/2022, ngày 03/8/2023 của à H ( ản gốc); Hợp đồng ủy quyền ngày 13/01/2021 ( ản gốc); Đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ gửi tài liệu, chứng cứ ngày 31/12/2020 của à H ( ản gốc); Tường trình quan hệ nhân thân ngày 26/10/2023 của à V ( ản gốc); Trích lục khai sinh của à V ( ản sao); Đơn in iễn nộp tiền tạ ứng án phí, án phí của à H ( ản gốc).

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân Đào và ngƣời đại diện hợp pháp ông Huỳnh Nhật Quang và ông Nguyễn Xuân Trƣờng trình bày:

Bà Đào thống nhất ác đ nh ối quan hệ nhân thân như phía nguyên đơn ác đ nh, à Đào là cháu gọi ông Thy (Thi) là cậu, ông Thy (Thi) là con trai à Nghe và là e trai ruột của à T ( ẹ à Đào).

Bà Đào ác đ nh, giữa à Đào và ông Thy (Thi) không ký kết hợp đồng đổi quyền sử dụng đất như phía nguyên đơn trình ày. Do ông Thy (Thi) không có vợ con nên à Đào có cho ông Thy (Thi) nhờ trên đất và có đồng ý để ông Thy (Thi) ây dựng nhà trên đất để . Trước đây, à Đào cho ông Thy (Thi) ượn ản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H 02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 đối với phần đất thuộc thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19, được UBND huyện DT cấp cho à Đào để ông Thy (Thi) là thủ tục lắp điện, nước sử dụng; sau khi lắp điện nước ong ông Thy (Thi) không trả lại ản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng nói trên cho à Đào. Việc ông Thy (Thi) đứng tên là thủ tục lắp điện, nước do à Đào không để ý, à Đào chỉ nghĩ cậu cháu thì giao cho cậu là đứng tên cậu cũng được. Sau khi ông Thy (Thi) không trả lại giấy chứng nhận thì à Đào có yêu cầu ông Thy (Thi) trả lại giấy chứng nhận nhưng ông Thy (Thi) không trả. Việc ông Thy (Thi) thế chấp giấy chứng nhận này cho à Nguyễn Th V để vay số tiền 200.000.000 đồng thì à Đào không iết; hiện nay ản gốc giấy chứng nhận do ai đang cất giữ à Đào cũng không iết. Việc à Nguyễn Th V kh i kiện yêu cầu ông Thy (Thi) trả nợ 200.000.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án Tòa án có ời à Đào tha gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng à Đào ủy quyền cho e trai tên Nguyễn Xuân Tài tha gia tố tụng và Tòa án đã giải quyết ằng Quyết đ nh số 177/2010/QĐST-DS ngày 26/7/2010. Theo quyết đ nh có nội dung, à Nguyễn Th V phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho à Đào nhưng à Đào chưa là đơn yêu cầu à Nguyễn Th V trả lại giấy chứng nhận theo quyết đ nh nói trên vì à Đào không iết à Nguyễn Th V là ai, chỉ iết ông Thy (Thi) nên ông Thy (Thi) phải có trách nhiệ lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ à Nguyễn Th V trả lại cho à Đào. Từ khi có Quyết đ nh số 177/2010/QĐST-DS, à Đào có yêu cầu ông Thy (Thi) lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ à V để trả lại cho à Đào nhưng ông Thy (Thi) chưa trả. Bà Đào không đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện DT yêu cầu thi hành nội dụng à Nguyễn Th V phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết đ nh số 177/2010/QĐST-DS do à Đào không có thời gian.

Hiện nay, nguyên đơn à H đại diện cho à Nghe kh i kiện yêu cầu à Đào tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 56 2 (ONT) thuộc thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19, tọa lạc tại ấp Chợ, ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương được UBND huyện DT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H 02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 cho à Nguyễn Th Xuân Đào, đồng thời uộc à Đào phải sang tên cho à Trần Th H là người giá hộ đương nhiên của à Nguyễn Th Nghe thì à Đào không đồng ý, vì giữa à Đào với ông Thy (Thi) không có thỏa thuận chuyển nhượng đất.

Đối với yêu cầu kh i kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của à Nguyễn Th V về việc yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 240, tờ ản đồ số 19 giữa ông Trần Văn Thy (Thi) và bà Nguyễn Th Xuân Đào ký kết vào ngày 20/5/2010 là vô hiệu do giả tạo và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH00390 ngày 30/6/2010 do UBND huyện DT cấp cho à Nguyễn Th Xuân Đào thì à Đào không đồng ý.

Bà Đào và người đại diện theo ủy quyền thống nhất và đề ngh Tòa án sử dụng các kết quả theo: ết luận giá đ nh số 4507/C09B ngày 15/11/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại Th phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an; Biên ản e

t, th đ nh tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 29/01/2021 và ngày 15/4/2022 do TAND huyện DT lập; Mảnh trích lục đ a chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 109-2021 ngày 12/3/2021 và số 958-2022 ngày 28/4/2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện DT lập và Biên ản đ nh giá tài sản tranh chấp ngày 15/4/2021 và ngày 08/9/2022 của Hội đồng đ nh giá tài sản tranh chấp để giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

Chứng cứ đơn à Đào và người đại diện theo ủy quyền cung cấp: Căn cước công dân của à Đào ( ản sao); Văn ản trình ày ý kiến của à Đào ngày 22/4/2024 của à Đào ( ản gốc); Bản tự khai ngày 13/11/2023, ngày 12/12/2023 của à Đào ( ản gốc); Bản tự khai ngày 07/8/2023 của ông Quang ( ản gốc); Bản tự khai ngày 14/8/2023 của ông Trường ( ản gốc); Hợp đồng ủy quyền ngày 27/10/2021 và ngày 15/9/2022 ( ản gốc); Đơn in sao chụp tài liệu chứng cứ ngày 31/12/2021 của ông Quang ( ản gốc); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 đứng tên Nguyễn Th Xuân Đào ( ản sao).

* Theo Đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 14/3/2022, quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị V và ngƣời đại diện hợp pháp đồng thời là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Mai L1 trình bày:

Thể hiện nội dung tại Đơn kh i kiện yêu cầu độc lập ngày 14/3/2022; Bản tự khai ngày 14/10/2021 và ngày 04/4/2022 của à L1 ( ản gốc); Biên ản lấy lời khai ngày 19/3/2021 đối với à L1; Biên ản là việc ngày 14/10/2021 đối với à L1:

Vào khoảng tháng 01/2010, bà V có cho ông Thy (Thi) vay số tiền 200.000.000 đồng. Khi vay tiền, ông Thy (Thi) có thế chấp cho bà V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 do UBND huyện DT cấp cho bà Nguyễn Th Xuân Đào, khi đó ông Thy (Thi) nói mặc dù giấy chứng nhận đứng tên à Đào nhưng thực tế à Đào đã đổi thửa đất số 240 của ông Thy (Thi) nên thửa đất số 745 là của ông Thy (Thi) và thực tế ông Thy (Thi) đã ây dựng nhà trên đất.

Đến tháng 04/2010 là đến thời hạn trả tiền vay, do ông Thy (Thi) không trả tiền nên bà V đã là đơn kh i kiện ông Thy (Thi) đến TAND huyện DT, tỉnh Bình Dương. Tại Quyết đ nh công nhận thỏa thuận của đương sự số 177/2010/QĐST-DS ngày 26/7/2010 của TAND huyện DT thì ông Thy (Thi) phải trả cho bà V số tiền là 206.000.000 đồng.

Do bà L1 là người dẫn ông Thy (Thi) đến vay tiền của bà V nên việc ông Thy (Thi) không trả tiền cho bà V thì bà L1 phải chiu trách nhiệm với bà V. Khi đó, à L1 đã tự nguyện thay mặt ông Thy (Th ) trả số tiền 200.000.000 đồng cho bà V nên hiện nay bà V đã đưa ản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 cho bà L1 cất giữ. Từ nă 2010 đến nay, à Đào không liên hệ bà V hay bà L1 để yêu cầu trả lại giấy chứng nhận. Bà L1 là người giữ giấy chứng nhận, bà L1 có nói cho à Đào iết việc bà L1 là người giữ giấy chứng nhận thì e trai à Đào tên Trường có tới nhà bà L1 yêu cầu trả lại giấy chứng nhận, bà L1 nói à Đào chỉ cần trả cho bà L1 50.000.000 đồng thì bà L1 sẽ trả giấy cho à Đào nhưng không thấy à Đào có ý kiến gì. Do bà L1 đã trả nợ thay cho ông Thy (Thi) nên ông Thy (Thi) đã thực hiện trả góp theo ngày cho bà L1, mỗi ngày trả 100.000 đồng và đã trả được số tiền 99.000.000 đồng.

Thấy rằng, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc, ông Thy (Thi) và à Đào đã có hành vi àn ạc t u tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà V. Cụ thể, vào ngày 20/5/2010, ông Thy (Thi) đã chuyển nhuợng quyền sử dụng thửa đất số 240 tờ bản đồ 19 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số và sổ cấp GCN H00077/QSDĐ/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của UBND huyện DT cấp cho hộ ông Trần Văn Thy (Thi) sang cho à Nguyễn Th Xuân Đào và à Đào được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00390 ngày 30/6/2010. Đây là giao d ch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà V theo Quyết đ nh công nhận thỏa thuận của đương sự số 177/2010/QĐST-DS ngày 26/7/2010 của TAND huyện DT. Nay, ông Thy (Thi) đã chết mà vẫn chưa thi hành ong nghĩa vụ trả nợ cho bà V nên làm ảnh hư ng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà V. Do đó, à V có yêu cầu độc lập và đề ngh xem xét giải quyết: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 240 tờ bản đồ 19 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H00077/QSDĐ/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của UBND huyện DT cấp cho hộ ông Trần Văn Thy (Thi) và à Nguyễn Th Xuân Đào vào ngày 20/5/2010 vô hiệu do giả tạo theo khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự nă 2015; đồng thời hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00390 ngày 30/6/2010 do UBND huyện DT cấp cho bà Nguyễn Th Xuân Đào đối với thửa đất số 237 (thửa đất số 240 cũ) tờ bản đồ 19.

Chứng cứ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan à V, bà L1 cung cấp: Đơn kh i kiện yêu cầu độc lập ngày 14/3/2022 của à V ( ản gốc); Đơn in iễn nộp tiền tạ ứng án phí, án phí ngày 14/3/2022 của à V ( ản gốc); “Hợp đồng ủy quyền” số công chứng 793, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/3/2021 ( ản gốc); Bản tự khai ngày 14/10/2021 và ngày 04/4/2022 của à L1 ( ản gốc); Biên ản lấy lời khai ngày 19/3/2021 đối với à L1; Biên ản là việc ngày 14/10/2021 đối với à L1; Đơn yêu cầu giải quyết vắng ặt ngày 04/8/2023 của à L1 ( ản gốc).

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng nhƣ tại phiên tòa, ngƣời kế thừa quyền và nghĩa vụ của ngƣời đƣợc giám hộ bà Nghe là ông Trần Văn Th trình bày:

Ông Th thống nhất toàn ộ ý kiến với à H, à Trần Th V, à Trần Th D. Ông Th ác đ nh tài sản là căn nhà trên đất là do ông Thy (Thi) ây dựng, trong nguồn tiền ây dựng căn nhà của ông Thy (Thi) thì ông Th có cho ông Thy (Thi) ột phần nhưng ông Th hiện không tranh chấp đối với số tiền cho ông Thy (Thi).

Ông Th thống nhất và đề ngh Tòa án sử dụng kết quả theo: ết luận giá đ nh số 4507/C09B ngày 15/11/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại Th phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an; Biên ản e

t, th đ nh tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 29/01/2021 và ngày 15/4/2022 do TAND huyện DT lập; Mảnh trích lục đ a chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 109-2021 ngày 12/3/2021 và số 958-2022 ngày 28/4/2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện DT lập và Biên ản đ nh giá tài sản tranh chấp ngày 15/4/2021 và ngày 08/9/2022 của Hội đồng đ nh giá tài sản tranh chấp để giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng nhƣ tại phiên tòa, ngƣời kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời đƣợc giám hộ bà Nghe là bà Trần Thị D trình bày:

Bà D thống nhất về mối quan hệ gia đình cũng như nội dung diễn biến sự việc đúng như à H và bà V đã trình ày. Hiện nay, ông Thy (Thi) đã chết, bà H thay mặt bà Nghe kh i kiện bà Đào, theo à D thì yêu cầu kh i kiện của bà H là hợp tình, hợp lý, đúng sự thật nên đề ngh Tòa án chấp nhận theo yêu cầu của bà H.

Bà D thống nhất và đề ngh Tòa án sử dụng kết quả theo: ết luận giá đ nh số 4507/C09B ngày 15/11/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại Th phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an; Biên ản e

t, th đ nh tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 29/01/2021 và ngày 15/4/2022 do TAND huyện DT lập; Mảnh trích lục đ a chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 109-2021 ngày 12/3/2021 và số 958-2022 ngày 28/4/2022 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện DT lập và Biên ản đ nh giá tài sản tranh chấp ngày 15/4/2021 và ngày 08/9/2022 của Hội đồng đ nh giá tài sản tranh chấp để giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời đƣợc giám hộ bà Nghe là ông Trần Văn Th1 trình bày: Tại Bản tự khai ngày 01/4/2024 và Đơn yêu cầu giải quyết, t ử vắng ặt ngày 12/4/2024: Ông Th1 thống nhất ý kiến như nguyên đơn à H và người đại diện cho à H trình ày, đề ngh Tóa án t ử theo yêu cầu kh i kiện của à H.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của ngƣời đƣợc giám hộ bà Nghe là bà Trần Thị T trình bày: Tại Bản tự khai ngày 01/5/2024 và Đơn yêu cầu vắng ặt ngày 01/5/2024: Bà T là ẹ ruột của à Đào và là con ruột của à Nghe. Đối với nội dung vụ án à T hoàn toàn thống nhất với lời trình ày của à Đào còn những nội dung người khác trình ày như thế nào thì à T không iết. Bà T đề ngh Tòa án giải quyết vụ án và giải quyết vắng ặt theo quy đ nh của pháp luật.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Trần Th1 trình bày: Tại Bản tự khai ngày 01/5/2024 và Đơn yêu cầu t ử vắng ặt ngày 01/5/2024: Ông Th1 là chồng của à Đào. Đối với nội dung vụ án ông Th1 hoàn toàn thống nhất với lời trình ày của à Đào còn những nội dung người khác trình ày như thế nào thì ông Th1 không iết. Ông Th1 đề ngh Tòa án giải quyết vụ án và giải quyết vắng ặt theo quy đ nh của pháp luật.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bồ Thị H1 trình bày: Tại Đơn yêu cầu giải quyết, t ử vắng ặt: Bà H1 chỉ là người thuê nhà của ông Thy (Thi), à H1 yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện DT trình bày: Tại Công văn số 1519/UBND-BTCD ngày 04/7/2024 và Công văn số 1239/UBND-BTCD ngày 09/7/2024 của UBND huyện DT:

- Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H02791/QĐ-UB do UBND huyện DT cấp ngày 01/11/2005 là cấp cho à Nguyễn Th Xuân Đào, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng trình tự thủ tục quy đ nh tại Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thi hành Ngh đ nh số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai.

- UBND huyện DT cung cấp đầy đủ hồ sơ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 cấp cho à Nguyễn Th Xuân Đào đối với thửa đất số 754, tờ ản đồ số 19 và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH 00390 ngày 30/6/2010 cấp cho à Nguyễn Th Xuân Đào đối với thửa đất số 237 (thửa đất cũ 240), tờ ản đồ số 19. UBND huyện DT đồng ý tha gia tố tụng nhưng đề ngh giải quyết vắng ặt trong suốt quá trình tố tụng.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã TT trình bày: Theo Đơn đề ngh giải quyết vắng ặt ngày 13/10/2022: Theo yêu cầu kh i kiện độc lập của à Nguyễn Th V về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 240 tờ bản đồ 19 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H00077/QSDĐ/QĐ-UB ngày 06/02/2002 của UBND huyện DT cấp cho hộ ông Trần Văn Thy (Thi) và à Nguyễn Th Xuân Đào vào ngày 20/5/2010 vô hiệu và đồng thời tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN CH00390 ngày 30/6/2010 do UBND huyện DT cấp cho bà Nguyễn Th Xuân Đào đối với thửa đất số 237 (thửa đất số 240 cũ) tờ bản đồ 19 thì UBND xã TT đề ngh Tòa án giải quyết theo quy đ nh của pháp luật. UBND xã TT đồng ý tha gia tố tụng nhưng đề ngh giải quyết vắng ặt trong suốt quá trình tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ th số 143/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương tuyên ử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà Trần Thị H là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị Nghe đối với bà Nguyễn Thị Xuân Đào.

- Không buộc bà Nguyễn Thị Xuân Đào phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 56 m2 (ONT) thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp Chợ, xã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương được UBND huyện DT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận H02791/QĐ-UB ngày 01/11/2005 cho bà Nguyễn Thị Xuân Đào.

- Không buộc bà Nguyễn Thị Xuân Đào phải sang tên quyền sử dụng đất nói trên cho bà Trần Thị H là người giám hộ đương nhiên của bà Nguyễn Thị Nghe.

2. Xử lý hậu quả của việc tồn tại tài sản trên đất.

2.1. Buộc bà Nguyễn Thị Xuân Đào có nghĩa vụ thanh toán cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật của ông Trần Văn Thy (Thi) đối với phần còn lại của trị giá 01 (một) căn nhà cấp 4 có diện tích 56 m2 (kết cấu 01 tầng trệt, 01 tầng lầu, tường xây tô, chân tường và nền lát gạch bông, mái lợp tôn) với tổng số tiền 290.976.000 đồng (hai trăm chín mươi triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).

2.2. Sau khi thanh toán xong số tiền trên, bà Nguyễn Thị Xuân Đào được sở hữu 01 (một) căn nhà cấp 4 diện tích 56 m2 (kết cấu 01 tầng trệt, 01 tầng lầu, tường xây tô, chân tường và nền lát gạch bông, mái lợp tôn) nói trên (tài sản có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2.3. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của bà Nguyễn Thị V đối với bà Nguyễn Thị Xuân Đào về việc đề nghị Tòa án tuyên bố “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” lập ngày 20/5/2010 giữa bà Nguyễn Thị Nghe và ông Trần Văn Thy (Thi) với bà Nguyễn Thị Xuân Đào đối với thửa đất số 237 (thửa đất cũ 240), tờ bản đồ số 19 là vô hiệu do giả tạo; đồng thời không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00390 ngày 30/6/2010 do UBND huyện DT cấp cho bà Nguyễn Thị Xuân Đào.

Ngoài ra, ản án sơ th còn quyết đ nh về án phí, chi phí tố tụng, trách nhiệ chậ thi hành án, quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Sau khi t ử sơ th , à Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th1, ông Trần Văn Th là nguyên đơn; à Hoàng Th Mai L1, à Nguyễn Th V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo, nội dung cho rằng: Tòa án cấp sơ th

t ử không đúng pháp luật, yêu cầu hủy ản án sơ th . Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến của iể sát viên đại diện Viện iể sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tha gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc th đã thực hiện đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: các đương sự kháng cáo không đưa ra được chứng cứ ới. Tòa án cấp sơ th t ử là có căn cứ. Đề ngh ác kháng cáo, giữ nguyên ản án sơ th .

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được th tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của iể sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Trần Th H (sau đây viết là nguyên đơn) kh i kiện à Nguyễn Th Xuân Đào (sau đây viết là đơn) yêu cầu đơn thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 745 tờ ản đồ số 19 tọa lạc tại ã TT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện DT cấp cho đơn ngày 01/11/2005 sang tên cho nguyên đơn. Nguyên đơn cho rằng: vào nă 2005, ông Trần Văn Thy (chết nă 2019, là e ruột của nguyên đơn) và đơn có thỏa thuận đổi đất: thửa đất số 240 của ông Thy đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đổi cho đơn, Ông Thy đổi lấy thửa đất số 745 của đơn. Theo yêu cầu của đơn, ông Thy đã lập thủ tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 240 cho đơn và đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/6/2010 thành thửa đất số 237. Nă 2018, ông Thy yêu cầu đơn lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Thy nhưng đơn không đồng ý. Do vậy, nguyên đơn kh i kiện với yêu cầu nêu trên.

Hội đồng t ử thấy rằng: theo hồ sơ quản lý đất đai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. B đơn được UBND huyện DT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/11/2005, diện tích 56 2, thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19; nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước cấp nă 2005. Ông Trần Văn Thy được UBND huyện DT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/02/2002, diện tích 56 2 thửa đất số 240, tờ ản đồ số 19 (Nhà nước cấp). Ngày 20/5/2010, cụ Nguyễn Th Nghe (chết nă 2023, cụ Nghe là ẹ của nguyên đơn và ông Thy) và ông Thy ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đơn, hợp đồng có chứng thực của UBND ã TT. Ngày 30/6/2010, đơn được UBND huyện DT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 56 2, thửa đất số 237 (trước là thửa đất số 240), tờ ản đồ số 19; nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trần Văn Thy. Thủ tục chuyển nhượng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đơn là đúng trình tự, thủ tục pháp luật về đất đai. hoản 20 Điều 4 Luật Đất đai nă 2003 quy đ nh: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”; khoản 5 Điều 105 Luật Đất đai nă 2003 quy đ nh: người sử dụng đất “được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình” và các iện pháp ảo vệ quyền s hữu theo Điều 255 Bộ luật Dân sự nă 2005. UBND huyện DT có Công văn số 1239/UBND-BTCD ngày 09/7/2021 trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/11/2005 và ngày 30/6/2010 cho b đơn là đúng trình tự pháp luật ( út lục 363). Nguyên đơn cho rằng có việc ông Thy và đơn đổi đất nhưng nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng inh. Mặt khác, khi còn sống ông Thy cũng không có khiếu nại hoặc kh i kiện tranh chấp về việc đổi đất. Tòa án cấp sơ th

t ử không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Đối với yêu cầu của à Nguyễn Th V cho rằng: ông Thy và cụ Nghe ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đơn là giả tạo, nhằ trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho à. Bà V yêu cầu tuyên ố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thy với đơn vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho đơn ngày 30/6/2010. Thấy rằng: cụ Nghe và ông Thy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đơn và đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng pháp luật. Trước thời điể Tòa án nhân dân huyện Dầu tiếng an hành Quyết đ nh Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 177/2010/QD9St-DS ngày 26/7/2010 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa à V với ông Thy và quyền sử dụng đất được cấp cho đơn là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ th

ử không chấp nhận yêu cầu của à V là có căn cứ.

X t đối với căn nhà cấp 4, diện tích 56 2 của ông Thy trên thửa đất số 237 (ông Thy không có vợ con). Các đương sự không có đơn kh i kiện, không có yêu cầu giải quyết. Tòa án cấp sơ th giải quyết là không phù hợp với quy đ nh pháp luật. Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền quyết đ nh và tự đ nh đoạt của đương sự quy đ nh: Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn kh i kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạ v đơn kh i kiện, đơn yêu cầu đó. Do vậy, cần sửa phần này của ản án sơ th .

Xét không có cơ s chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H, bà D, ông Th1, ông Th, bà Nguyễn Th V, bà L1. Ý kiến của iể sát viên là phù hợp ột phần. Án phí sơ th : đơn không phải ch u. Miễn án phí cho nguyên đơn, bà Nguyễn Th V là người cao tuổi có đơn in iễn án phí theo quy đ nh. Án phí phúc th : nguyên đơn, à D, ông Th1, ông Th, bà L1, à Nguyễn Th V không phải ch u do sửa ản án sơ th . Chi phí e

t, th đ nh tại chỗ, đo đạc và đ nh giá tài sản: nguyên đơn và à Nguyễn Th vân phải ch u.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 20 Điều 4, khoản 5 Điều 105 Luật Đất đai nă 2003;

- Căn cứ Điều 255 Bộ luật Dân sự nă 2005;

- Căn cứ các Điều 157, 165, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều: 12, 14, 15, 26, 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy đ nh về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th1, ông Trần Văn Th, à Hoàng Th Mai L1, à Nguyễn Th V. Sửa Bản án số 143/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện DT như sau:

- Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của à Trần Th H đối với à Nguyễn Th Xuân Đào về việc yêu cầu à Đào thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 56 2, thửa đất số 745, tờ ản đồ số 19 tọa lạc tại ã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện DT cấp ngày 01/11/2005 cho à Nguyễn Th Xuân Đào sang cho à Trần Th H.

- hông chấp nhận yêu cầu của à Nguyễn Th V đối với à Nguyễn Th Xuân Đào về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/5/2010 giữa à Nguyễn Th Nghe và ông Trần Văn Thy với à Nguyễn Th Xuân Đào vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Th V về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện DT cấp ngày 30/6/2010 cho bà Nguyễn Th Xuân Đào

2. Về án phí, chi phí e

t, th đ nh tại chỗ, đo đạc và đ nh giá tài sản:

- Án phí sơ th : Miễn án phí cho à Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th, ông Trần Văn Th, à Trần Th V, à Nguyễn Th V. Bà Nguyễn Th Xuân Đào không phải ch u.

- Án phí phúc th : Bà Trần Th H, à Trần Th D, ông Trần Văn Th1, ông Trần Văn Th, à Hoàng Th Mai L1, à Nguyễn Th V không phải ch u.

- Chi phí e

t, th đ nh tại chỗ, đo đạc và đ nh giá tài sản: à Trần Th H phải ch u 1.711.957 đồng. Bà Nguyễn Th V phải ch u 2.206.000 đồng. Bà H, bà V đã thực hiện ong nghĩa vụ nộp chi phí tố tụng.

Trường hợp ản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc th có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

N i nhận:

Cỡ chữ