- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T. Cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Võ Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 63/2021 HNGĐ-ST Ngày: 03 - 12 - 2021 V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông: Huỳnh Ngọc Trứ.
2/ Ông: Võ Văn Bảy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh An - Cán bộ TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 468/2020/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự.
1/ Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1992; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Bị đơn: Anh Võ Minh H, sinh năm 1979; (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/9/2020 và lời khai thể hiện có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày: Do quen biết trước chị Trần Thị T và anh Võ Minh H được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới với nhau vào tháng 3 năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Cai Lậy, theo giấy chứng nhận kết hôn số 33/2011, quyển số 01/2011 ngày 03/3/2011. Sau khi cưới về chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, sống với nhau không hạp tánh tình, anh H không lo làm ăn để lo cho vợ con mà thường hay nhậu nhẹt từ đó dẫn đến vợ chồng cãi vã nhau thường xuyên; vợ chồng ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ đầu năm 2019 cho đến nay. Nay chị T yêu cầu xin được ly hôn với anh H vì cho rằng về tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống chung không hạnh phúc.
- Về con chung: Có 01 con tên Võ Ngọc N, sinh ngày 17/4/2011; hiện cháu N đang sống chung với chị T từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay. Nếu ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị T không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Võ Minh H dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gởi cho Tòa án.
Về phía đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định nên không có đề nghị gì.
Về ý kiến của phía đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Võ Minh H.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Ngọc N, sinh ngày 17/4/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị T chưa có yêu cầu; anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị T khai không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh H thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết
Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung.
Về thủ tục tố tụng: Việc vắng mặt bị đơn anh Võ Minh H. Xét thấy, bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt phía bị đơn anh H.
Về yêu cầu của nguyên đơn: yêu cầu xin được ly hôn với anh Võ Minh H. Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay, chị T vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn với anh H, vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống không hạnh phúc. Phía anh H thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án. Xét thấy, trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, đã triệu tập phía anh H nhiều lần đến để hòa giải về việc chị T xin ly hôn với anh H. Nếu như về tình cảm vợ chồng, anh H muốn vợ chồng đoàn tụ lại thì anh H phải đến Tòa án để gặp chị T, để hòa giải về tình cảm vợ chồng xem có khả năng đoàn tụ hàn gắn lại được hay không nhưng phía anh Hùng không đến, thể hiện anh H không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng đối với chị T. Ngoài ra, anh H và chị T đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ đầu năm 2019 cho đến nay đã hơn 02 năm. Cho thấy, về tình cảm vợ chồng giữa anh H và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Võ Minh H.
Về con chung: 01 con tên Võ Ngọc N, sinh ngày 17/4/2011; hiện cháu N đang sống chung với chị T từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay. Nếu ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu N do chị T nuôi dưỡng từ khi anh H và chị T ly thân với nhau cho đến nay đã ổn định về mọi mặt. Hơn nữa, qua tham khảo lời khai của cháu N cũng có nguyện vọng xin được sống chung với chị T; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ giao cháu Võ Ngọc N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do phía chị T chưa có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu sau này chị T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị T được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị T khai không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh H thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu sau này phía anh H cho rằng vợ chồng có tài sản chung và nợ chung nhưng không thỏa thuận được với nhau và có tranh chấp thì được quyền làm đơn khởi kiện bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.
Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T. Cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Võ Minh H.
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Ngọc N, sinh ngày 17/4/2011cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị T chưa có yêu cầu; anh H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí: Buộc chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai thu số 0006702 ngày 22/12/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy; nên chị T đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Võ Minh H thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi Nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - UBND phường N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Sơn |