vanban.org

Bản án 63

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 07/04/2026 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b : Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2025. Về án phí phúc thẩm: p dụng kho n 2 Điều 135, kho n 2 Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Kho n 2 Điều 23 Nghị quyết s 326 2016 UBTVQH1 ngày 30 12 2016 của Ủy ba… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn Đ - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

H

C

H

H CH

H V T M

T H M ĐỒNG

Đ c l p - T do - H nh ph c B n án s : 63 2026 HS-PT Ngày: 0 2026

NHÂN DANH

ƯỚC C

H

H I CH

H V T NAM

T

H

T H M ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Qu n.

Các Thẩm phán: ông Huỳnh Châu Thạch, ông Vũ Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Trúc Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 0 tháng năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý s 61/2026/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đ i với bị cáo Trần Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 10/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn Đ, sinh năm 198 tại Ninh Bình (trước đây là Hà Nam); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, C, xã V, tỉnh Ninh Bình (trước đây là Đ, L, Hà Nam); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H và bà Hà Thị C (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 21 10 2021, Trần Văn Đ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng theo Quyết định s 132 QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 19 01 202 . Ngày 12/12/2025 Trần Văn Đ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, theo Quyết định s 0 QĐ-XPHC của Công an xã Đ, mức xử phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), đã nộp phạt xong ngày 16 12 2025.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 9 2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Đ, Trại tạm giam s 1, Công an tỉnh L (có mặt).

Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Vĩnh , bị hại Đoàn Lâm Đ1 và bị hại Ngô Thị R nhưng không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

U VỤ :

Theo b n án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào kho ng 23 giờ ngày 15 9 2025, Trần Văn Đ và Nguyễn Vĩnh L những người không có nghề nghiệp ổn định, s ng lang thang, nghiện ma túy, đã bàn bạc và th ng nhất với nhau đi trộm cắp tài s n để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy. Đ và V sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 9V3-3 6 , hiệu Yamaha Jupiter màu xám làm phương tiện, mang theo 01 con dao và 01 tua vít làm công cụ phạm tội đi đến công trình Nhà thiếu nhi xã Đ, thuộc thôn B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng để trộm tài s n. Khi đi đến công trình xây dựng do ông Đoàn Lâm Đ1, sinh năm 1985 làm chủ thầu, Đ và V phát hiện tài s n là khung cửa nhôm, cánh cửa nhôm được lắp trên các khung cửa và 01 (một) máy bơm nước để ở bên hông nhà của công trình nhà thiếu nhi xã Đ nên đã dùng tua vít, dao để tháo c vít, rạch keo để tháo các khung cửa, cánh cửa bằng nhôm ra, sau đó chiếm đoạt toàn bộ khung cửa, cánh cửa và 01 máy bơm nước tại công trình này. Sau khi chiếm đoạt được tài s n, Nguyễn V điều khiển xe mô tô chở Trần Văn Đ cùng s tài s n trộm cắp được về nhà hoang tại khu L, xã Đ để cất giấu. Đến kho ng hơn 03 giờ sáng ngày 16 9 2025, V tiếp tục dùng xe mô tô chở Đ đi đến khu vực T, khi đến đoạn đầu Thạnh M phát hiện trước nhà bà Ngô Thị R tại thôn N, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng có 01 (một) máy nén khí màu xanh không có ai trông coi nên tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Sau khi chiếm đoạt được máy nén khí, V điều khiển xe mô tô chở Đ ngồi sau ôm máy nén khí vừa trộm được mang về nhà hoang tại lô T để cất giấu, sau đó Đ và Vĩnh ngủ tại căn nhà hoang đã cất giấu tài s n trộm cắp được này. Đến sáng ngày 16 9 2025 Đ và V bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ toàn bộ tài s n trộm cắp được tại ngôi nhà hoang trên. Sau khi phát hiện bị mất trộm, ông Đoàn Lâm Đ1, bà Ngô Thị R đã làm đơn trình báo cơ quan công an.

Quá trình điều tra, Nguyễn V và Trần Văn Đ đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại b n Kết luận định giá tài s n s 2 3 KL-HĐĐGTS ngày 25 9 2025 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự UBND tỉnh L xác định giá trị tài s n mà V và Đ đã chiếm đoạt tại Nhà thiếu nhi xã Đ, Lâm Đồng là 22.6 6.000 đồng (Hai mươi hai triệu sáu trăm b y mươi sáu nghìn đồng), giá trị tài s n mà V và Đ đã chiếm đoạt tại thôn N, xã Đ là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng chẵn), tổng tài s n bị chiếm đoạt trị giá 25.1 6.000 đồng (Hai mươi lăm triệu một trăm b y mươi sáu nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng đã quyết định:

Tuyên b các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Vĩnh phạm T “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng kho n 1 Điều 1 3; các điểm i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52; Điều 1 ; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đ i với bị cáo Trần Văn Đ;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2025.

Áp dụng kho n 1 Điều 1 3; các điểm i, s kho n 1 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52; Điều 1 ; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đ i với bị cáo Nguyễn Vĩnh ;

Xử phạt bị cáo Nguyễn V (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2025.

Ngoài ra, b n án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo b n án theo luật định.

Ngày 06/02/2026, bị cáo Trần Văn Đ có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo v n giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin gi m nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc gi i quyết vụ án: Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn c nh cụ thể của bị cáo, gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬ ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục t tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét gi i quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử. Có đủ căn cứ kết luận: Vào kho ng 23 giờ ngày 15/9/2025, Trần Văn Đ và Nguyễn V đã lén lút trộm cắp 06 khung cửa, cửa nhôm, 01 máy bơm nước của ông Đoàn Lâm Đ1 trị giá 22.6 6.000 đồng. Đến kho ng 03 giờ ngày 16/9/2025, Trần Văn Đ và Nguyễn Vĩnh tiếp T1 trộm cắp 01 máy nén khí nhãn hiệu Japan Technology, T-max tại trước nhà bà Ngô Thị R thuộc thôn N, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng trị giá 2.500.000 đồng, tổng giá trị tài s n mà Đ và V đã trộm cắp là 25.1 6.000 đồng. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng xét xử bị cáo Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai l n tr l n” được quy định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, do đó mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đ i với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết gi m nhẹ nào mới để xem xét. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử giữ nguyên b n án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Qua xem xét nội dung b n án sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo Trần Văn Đ bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai l n tr l n” được quy định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm v n áp dụng tình tiết gi m nhẹ “Phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đúng. Cấp phúc thẩm nêu ra để Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[5] Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ, giữ nguyên B n án hình sự sơ thẩm s 10/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng.

Căn cứ kho n 1 Điều 1 3; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52; Điều 1 ; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên b : Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2025.

Về án phí phúc thẩm: p dụng kho n 2 Điều 135, kho n 2 Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Kho n 2 Điều 23 Nghị quyết s 326 2016 UBTVQH1 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội Quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn Đ ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của b n án sơ thẩm s 10/2026/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lâm Đồng không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/4/2026).

Cỡ chữ