vanban.org

Bản án 63/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định này, Bùi Đình M có quyền khiếu nại; Công an xã L có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Đình M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 63/QĐ-TATp.Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn D.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 18 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6 – Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 57/QĐ-TA ngày 12 tháng 3 năm 2026, đối với:

Bùi Đình M, sinh ngày 10/01/1990; Căn cước công dân số 044090001111; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Không có nơi cư trú ổn định; có cha là Bùi Hữu N (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị T.

Bùi Đình M hiện đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6 – Thành phố Hồ Chí Minh. “Có mặt tại phiên họp”

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lương Quang M1 – Cán bộ Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phạm Võ Trúc Linh – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Bùi Đình M bị Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi vi phạm như sau:

Ngày 30/01/2026, Công an xã L kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với Bùi Đình M, kết quả Bùi Đình M dương tính với chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã L ngày 02/02/2026, xác định Bùi Đình M nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Bùi Đình M nghiện ma túy nhưng từ chối cai nghiện tự nguyện theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy nên ngày 02/02/2026 Công an xã L lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Đình M vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định. Ngày 02/02/2026, Công an xã L ban hành Quyết định số 39/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M và cùng ngày 02/02/2026 Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận Bùi Đình M.

Ngày 06/02/2026, Công an xã L ban hành Văn bản số 145/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị trình bày:

Bùi Đình M nghiện ma túy nhưng từ chối cai nghiện tự nguyện theo quy định, bị Công an xã L lập biên bản vi phạm nên thuộc trường hợp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Đình M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn cai nghiện từ 13 đến 15 tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị Bùi Đình M:

Bùi Đình M khai nhận bản thân sử dụng ma túy từ đầu năm 2022, loại ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine), lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 27/01/2026.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng, trình tự thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M là cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Đình M vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời gian phù hợp.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

Về thời hiệu giải quyết: Ngày 02/02/2026, Bùi Đình M bị Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm do nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 18/3/2026, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M là còn trong thời hiệu theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thẩm quyền: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định Bùi Đình M nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện, Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành lập hồ sơ theo quy định tại các Điều 40, 41, 42 và 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp, Bùi Đình M thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2022, lần sử dụng ma túy gần nhất vào ngày 27/01/2026. Căn cứ Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã L ngày 02/02/2026, xác định Bùi Đình M nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Xét thấy, Bùi Đình M nghiện ma túy nhưng từ chối cai nghiện tự nguyện theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ nên thuộc trường hợp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020. Do đó, đủ cơ sở chấp nhận đề nghị của Công an xã L về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bùi Đình M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bùi Đình M biết ma túy gây nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các tệ nạn khác trong xã hội, nhưng cố ý vi phạm nên cần áp dụng thời hạn cai nghiện phù hợp đối với Bùi Đình M. Tại phiên họp Bùi Đình M đã thành thật khai báo nên xem xét để giảm thời gian áp dụng cai nghiện bắt buộc cho Bùi Đình M.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105 và 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025);

Căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ các Điều 2, 3, 20, 22, 23, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Đình M.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định này, Bùi Đình M có quyền khiếu nại; Công an xã L có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét lại Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ sở cai nghiện ma túy số 6 – Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ