vanban.org

Bản án 63/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 01/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ”.

2/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi chấp hành án. 3/ Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Đối với các vật chứng: 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng T- Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ k…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2026/HS-ST
Ngày: 01-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hải;

2. Ông Lý Thanh Chiều

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 6 - Cần Thơ tiến hành mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2026/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2026 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2001; nơi sinh: thành phố Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ; số căn cước công dân: 094201012677 cấp ngày 20/6/2023; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Thanh B (chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 tiền sự, chưa được xóa, cụ thể: vào ngày 21/02/2024 bị Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng xử phạt hành chính hành vi mang theo trong người các loại vũ khí thô sơ (dạo tư chế, chĩa 03 mũi, ống tuýp) nhằm mục đích gây thương tích cho người khác vào ngày 11/02/2024 tại ấp T, xã A, huyện K tỉnh Sóc Trăng, với số tiền 4.000.000 đồng và vào ngày 03/5/2024 bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng xử phạt hành chính hành vi mang theo trong người các loại vũ khí thô sơ (dạo tư chế) có khả năng sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác, với số tiền 5.000.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, kể từ ngày 22/12/2025 cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Thạch Dương Nhật K, sinh ngày 12/01/2008; nơi cư trú: Ấp C, xã K, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt);

2. Ông Sơn Kèo L1, sinh ngày 22/3/2001; nơi cư trú: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt);

3. Ông Châu Hoàng P, sinh ngày 13/2/2005; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt);

4. Ông Trần Hoàng L2, sinh 01/10/2002; nơi cư trú: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ (Có mặt);

- Người làm chứng: Ông Lâm Văn L3, sinh ngày 17/11/1962; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 14/08/2025, trong lúc Nguyễn Hoàng T (T), Châu Hoàng P (P), Thạch Dương Nhật K (K), Sơn Kèo L1 (L1), Trần Hoàng L2 (L2) cùng nhậu tại nhà T, thì L2 nới với T về việc L2 có đi đến nhà của Thạch T1 (T1) để đòi số tiền 300.000 đồng mà T1 đã mượn của L2 trước đó nhưng T1 không trả mà còn dùng gạch ném và đuổi L2 đi về, nghe L2 nói vậy thì T hỏi L2 “mày đụng chuyện ở đâu”, L2 trả lời “ở trong P”, T tiếp tục nói “mày đi với tao, nhiều khi nó gặp tao thì cả hai huề nhau”, thì L2 đồng ý cùng T đi tìm T1 để hòa giải mâu thuẫn, khi nghe T nói vậy thì K cũng đi theo, trước khi đi L2 sợ sẽ bị T1 đánh nữa nên L2 đi vào nhà của T lấy 03 cây dao tự chế mang theo để phòng thân, L2 cầm 01 cây dao tự chế bằng kim loại, dài 66,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 20,5cm; lưỡi bằng kim loại màu trắng xám 01 bề sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao dài 46cm, rộng 4,8cm và đưa cho K cầm 02 cây dao tự chế bằng kim loại, dài 53,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 16cm; lưỡi bằng kim loại màu trắng 01 bề sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao dài 37,5cm, rộng 4cm. Sau đó T lấy xe mô tô nhãn hiệu AirBlade, màu xám, biển số 59K1 – 259.79 chở L2 và K lưu thông trên tuyến lộ đal đi qua nhà T1, trên đường đi thì gặp P điều khiển xe chở L1, khi thấy T thì P điều khiển xe chạy theo T, khi cả nhóm đi đến nhà T1 thì không thấy T1 nên cả nhóm điều khiển xe quay về nhà của T để nhậu tiếp. Trên đường đi về khi đi đến khu vực ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ thì gặp lực lượng Công an xã P, khi thấy lực lượng Công an thì K, L2, L1 bỏ chạy quăng lại dao ở hiện trường, T và P bị Công an mời về làm việc, đồng thời qua kiểm tra cốp xe mô tô biển số 59K1 -259.79 của T phát hiện 01 cây vũ bằng kim loại, dài 65cm, cán bằng kim loại dài 24cm, thân tròn bằng kim loại màu trắng có hai khúc dài 41cm.

Tại kết luận giám định số 1365/KLGĐ-KTHS ngày 17/10/2025 của Phòng K1 Công an thành phố C:

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, dài 53,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 16cm; lưỡi bằng kim loại màu trắng 01 bề sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao dài 37,5cm, rộng 4cm là dao sắc, nhọn thuộc phụ lục 5 Danh mục dao có tính sát thương cao.

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, dài 53,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 16cm; lưỡi bằng kim loại màu trắng 01 bề sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao dài 37,5cm, rộng 4cm là dao sắc, nhọn thuộc phụ lục 5 Danh mục dao có tính sát thương cao.

- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, dài 66,5cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 20,5cm; lưỡi bằng kim loại màu trắng xám 01 bề sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao dài 46cm, rộng 4,8cm là đao thuộc phụ lục 3 Danh mục vũ khí thô sơ.

- 01 cây vũ bằng kim loại, dài 65cm, cán bằng kim loại dài 24cm, thân tròn bằng kim loại màu trắng có hai khúc dài 41cm là dùi cui kim loại thuộc phụ lục 4 Danh mục công cụ hỗ trợ.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSCTO-KV ngày 13/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số: 13/CT-VKSCTO-KV ngày 13/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 306; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 03 tháng đến 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngoài, dài 16cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 37,5cm, rộng 04cm, trên lưỡi dao có 03 chữ hán; 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngoài, dài 16cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 37,5cm, rộng 04cm, trên lưỡi dao có 03 chữ hán; 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 66,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc bốn khoen kim loại màu vàng bên ngoài, dài 20,5cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng xám, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 46cm, rộng 4,8cm, trên lưỡi dao có chín lỗ tròn, đường kính 0,5cm. Cùng 01 (một) vỏ dao bằng gỗ, có bọc ba khoen kim loại màu vàng bên ngoài, dài 54cm, rộng 06cm; 01 cây vũ bằng kim loại, có tổng chiều dài 65cm; Cán bằng kim loại, có bọc nhựa, màu đen bên ngoài, dài 24cm; Thân tròn bằng kim loại màu trắng, có hai khúc, dài 41cm.

Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong phần lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Hoàng T trình bày ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch Dương Nhật K, ông Sơn Kèo L1, ông Châu Hoàng P và người làm chứng ông Lâm Văn L3. Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trên đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trên không gây trở ngại đến việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Cho nên, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng

- Về nội dung:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở để xác định: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/8/2025 tại ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ, Nguyễn Hoàng T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mang theo trong người các loại vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây thương tích cho người khác theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng T lại tiếp tục thực hiện hành vi cất giấu trong cốp xe mô tô biển số 59K1 -259.79 một cây vũ bằng kim loại, dài 65cm, cán bằng kim loại dài 24cm, thân tròn bằng kim loại màu trắng có hai khúc dài 41cm, qua giám định là công cụ hỗ trợ. Do đó, Cáo trạng số 13/CT-VKSCTO-KV ngày 13/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” theo quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và ý thức được rằng việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để nhằm mục đích gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mang theo trong người các loại vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây thương tích cho người khác theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo vẫn cố tình cất giấu trong cốp xe mô tô biển số 59K1 -259.79 một cây vũ bằng kim loại, dài 65cm, cán bằng kim loại dài 24cm, thân tròn bằng kim loại màu trắng có hai khúc dài 41cm, qua giám định là công cụ hỗ trợ. Tại Bản kết luận giám định số 1365/KLGĐ-KTHS ngày 17/10/2025 của Phòng K1 Công an thành phố C, kết luận: 01 cây vũ bằng kim loại, dài 65cm, cán bằng kim loại dài 24cm, thân tròn bằng kim loại màu trắng có hai khúc dài 41cm là dùi cui kim loại thuộc phụ lục 4 Danh mục công cụ hỗ trợ. Cho nên, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ” theo quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng T không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng: 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngoài, dài 16cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 37,5cm, rộng 04cm, trên lưỡi dao có 03 chữ hán; 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngoài, dài 16cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 37,5cm, rộng 04cm, trên lưỡi dao có 03 chữ hán; 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 66,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc bốn khoen kim loại màu vàng bên ngoài, dài 20,5cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng xám, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 46cm, rộng 4,8cm, trên lưỡi dao có chín lỗ tròn, đường kính 0,5cm. Cùng 01 (một) vỏ dao bằng gỗ, có bọc ba khoen kim loại màu vàng bên ngoài, dài 54cm, rộng 06cm; 01 cây vũ bằng kim loại, có tổng chiều dài 65cm; Cán bằng kim loại, có bọc nhựa, màu đen bên ngoài, dài 24cm; Thân tròn bằng kim loại màu trắng, có hai khúc, dài 41cm là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ nên bị tịch thu, tiêu huỷ.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi mang theo dao tự chế của Thạch Dương Nhật K, Trần Hoàng L2: Qua giám định 02 cây là dao sắc, thuộc phụ lục 5 Danh mục dao có tính sát thương cao và 01 cây là đao, thuộc phụ lục 3 “danh mục vũ khí thô sơ” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, tuy nhiên việc K và L2 cầm theo dao không nhằm mục đích gây thương tích cho người khác nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, nên không đặt ra xem xét trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hành vi của K, L2 có dấu hiệu vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã chuyển đến Công an xã P, thành phố Cần Thơ xem xét, xử lý theo quy định, nên không đặt ra xem xét, xử lý.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng T là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 306; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T;

- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ”.

2/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 04 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi chấp hành án.

3/ Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Đối với các vật chứng: 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngoài, dài 16cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 37,5cm, rộng 04cm, trên lưỡi dao có 03 chữ hán; 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 53,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc vải bên ngoài, dài 16cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 37,5cm, rộng 04cm, trên lưỡi dao có 03 chữ hán; 01 cây dao tự chế, bằng kim loại, có tổng chiều dài 66,5cm; Cán dao bằng gỗ tròn, có bọc bốn khoen kim loại màu vàng bên ngoài, dài 20,5cm; Lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng xám, có một bề sắc bén, mũi dao nhọn, dài 46cm, rộng 4,8cm, trên lưỡi dao có chín lỗ tròn, đường kính 0,5cm. Cùng 01 (một) vỏ dao bằng gỗ, có bọc ba khoen kim loại màu vàng bên ngoài, dài 54cm, rộng 06cm; 01 cây vũ bằng kim loại, có tổng chiều dài 65cm; Cán bằng kim loại, có bọc nhựa, màu đen bên ngoài, dài 24cm; Thân tròn bằng kim loại màu trắng, có hai khúc, dài 41cm là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ nên bị tịch thu, tiêu huỷ.

4/ Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

5/ Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ