vanban.org

Bản án 63/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện K, ông Nguyễn Thiện K được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009 cho ông Nguyễn Thiện K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NguyenThienK - PhamThiHuongQ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện K, ông Nguyễn Thiện K được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình.

Bà Nguyễn Ngọc Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 854/2025/TLST – HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10/3/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thiện K, sinh năm 1978;

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 20/8/2021, nơi cấp Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ cư trú: Số D đường B, tổ F, ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Hương Q, sinh năm 1983;

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 04/11/2025, nơi cấp Bộ Công an.

Địa chỉ cư trú: Số D đường B, tổ F, ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông K có đơn xin vắng mặt, bà Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Thiện K trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị Hương Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai) số 39/BM quyển số 01/2008 ngày 07/04/2008.

Thời gian đầu ông, bà chung sống rất hạnh phúc nhưng sau đó đến đầu năm 2023 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm, không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống; không tìm được tiếng nói chung nên từ đó thường xuyên xảy ra cãi vã, gia đình không hạnh phúc. Cũng đã nhiều lần cả hai tìm cách hàn gắn tình cảm, để cùng chăm lo cho con cái nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay tuy ông K và bà Q vẫn sống chung nhà nhưng vợ chồng không còn sinh hoạt chung, đã ly thân hơn một năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể nào kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Nguyễn Thiện K yêu cầu được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông K và bà Q có 03 con chung là cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004; cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009. Khi ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Riêng cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 đã thành niên và có khả năng lao động nên ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về cấp dưỡng: Ông K không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí ông K tự nguyện chịu theo quy định.

* Bị đơn bà Phạm Thị Hương Q được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó không có ý kiến hay chứng cứ gì giao nộp cho Tòa án.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai:

+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.

+ Về việc giải quyết tranh chấp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Thiện K, cho ông Nguyễn Thiện K được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009 cho ông Nguyễn Thiện K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết; Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Q không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Thiện K phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Ông Nguyễn Thiện K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai giải quyết cho ông K được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Nguyễn Thiện K là nguyên đơn, bà Phạm Thị Hương Q là bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Hương Q hiện nay đang cư trú tại xã B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bà Phạm Thị Hương Q nhưng bà Q không đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử; ông Nguyễn Thiện K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ và Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông K và bà Q cũng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện K, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Nguyễn Thiện K và bà Phạm Thị Hương Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã B, tỉnh Đồng Nai) số 39/BM quyển số 01/2008 ngày 07/04/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, bất đồng trong cách nuôi dạy con cái và nhiều mâu thuẫn khác không thể hàn gắn được.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Q theo quy định nhưng bà Q không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy bà Q đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với ông K. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng ông K vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với bà Q nữa.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông K và bà Q là có thật, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên việc ông K xin ly hôn là chính đáng. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho ông Nguyễn Thiện K được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông K và bà Q có 03 con chung là cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004; cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009. Ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 đã thành niên và có khả năng lao động nên ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy: Tại biên bản xác minh ngày 29/01/2026, Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai cung cấp: Do bà Q không có trách nhiệm khai báo với chính quyền địa phương về nghề nghiệp, thu nhập của bản thân nên không có cơ sở để xác định điều kiện nuôi con chưa thành niên của đương sự. Theo bản tự khai ông K trình bày hiện nay ông làm công việc tự do, thu nhập từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, với mức thu nhập này ông đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu H1. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với bà H2 ý kiến về con chung. Mặt khác cháu H1 có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông K. Do đó, để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý cũng như việc ăn ở, học hành của con chung, vì vậy cần thiết giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009 cho ông Nguyễn Thiện K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng: Bà Phạm Thị Hương Q không phải cấp dưỡng nuôi con do ông K không yêu cầu.

Bà Phạm Thị Hương Q được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết

Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Xét yêu cầu của ông K phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Ông Nguyễn Thiện K phải chịu án phí theo quy định. Bà Phạm Thị Hương Q không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thiện K, ông Nguyễn Thiện K được ly hôn với bà Phạm Thị Hương Q.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 17/11/2009 cho ông Nguyễn Thiện K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Cháu Nguyễn Đoan T, sinh ngày 27/11/2004 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/9/2007 đã thành niên và có khả năng lao động nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng: Bà Phạm Thị Hương Q không phải cấp dưỡng nuôi con do ông K không yêu cầu.

Bà Phạm Thị Hương Q được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Thiện K phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông K đã nộp tại biên lai số 0011604 ngày 17/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Ông Nguyễn Thiện K đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Phạm Thị Hương Q không phải nộp án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Thiện K và bà Phạm Thị Hương Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND khu vực 3 – Đồng Nai;

- THADS tỉnh Đồng Nai;

- UBND xã Bình Minh, tỉnh Đồng Nai;

- Lưu.

Nguyễn Thị Quỳnh

NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN NAM ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị T1

Huỳnh Thị Kim Kiên Nguyễn Thị Q1

TM.NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ