vanban.org

Bản án 63/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Mỹ D về việc xin ly hôn anh Trịnh Lê Thế N.

Về con chung là Trịnh Thế Vỹ, sinh ngày 17/12/2022. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu Vỹ cho chị Trần Mỹ D chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra yêu cầu anh Trịnh Lê Thế N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền đến thăm nom, chăm sóc và nuôi dạy con chung, không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung và nợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Mỹ D về việc xin ly hôn anh Trịnh Lê Thế N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2026/HNGĐ-ST
Ngày 10 – 02 – 2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Kim Huệ.

2. Ông Đào Việt Khái.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 24/2026/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ D, sinh năm 2003; Căn cước số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 02/11/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Địa chỉ: Ấp 9, xã Đ, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trịnh Lê Thế N, sinh năm 2002; Căn cước số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 12/3/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Địa chỉ: Ấp Cơi 6A, xã Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân, chị Trần Mỹ D và anh Trịnh Lê Thế N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2021 nhưng đến năm 2024, anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Tây B, huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Cà Mau. Theo chị D trình bày trong thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng thời gian sau, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên đời sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung, chị Trần Mỹ D và anh Trịnh Lê Thế N chung sống với nhau có 01 người con là Trịnh Thế Vỹ, sinh ngày 17/12/2022. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, chị Trần Mỹ D khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Trịnh Lê Thế N (bị đơn) tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Mỹ D (nguyên đơn). Riêng chị D đã có lời khai và xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2024 tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Tây B, huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số: 183/2024 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù, trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện nhưng không đến Tòa, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình đều đó cho thấy bị đơn không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân vốn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở, được chấp nhận.

Về con chung là Trịnh Thế Vỹ, sinh ngày 17/12/2022, hiện con đang chung sống với nguyên đơn. Mặc dù, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa xem xét nhưng Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hiện cháu Vỹ đang chung sống cùng nguyên đơn đã ổn định, việc các đương sự ly hôn đã phần nào làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và tâm lý của cháu. Do đó, để giảm bớt việc ảnh hưởng tâm lý, việc học tập và xáo trộn cuộc sống bình thường của con trẻ nên yêu cầu về con của nguyên đơn được chấp nhận.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa, không gửi ý kiến bằng văn bản đối với việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con trong khi nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Mỹ D về việc xin ly hôn anh Trịnh Lê Thế N.

- Về con chung là Trịnh Thế Vỹ, sinh ngày 17/12/2022. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu Vỹ cho chị Trần Mỹ D chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra yêu cầu anh Trịnh Lê Thế N cấp dưỡng nuôi con. Anh N có quyền đến thăm nom, chăm sóc và nuôi dạy con chung, không ai được quyền cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung, chị Trần Mỹ D khai không có, nên không đặt ra xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Trần Mỹ D phải nộp số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 07/01/2026, chị D đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0000153 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ