- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Hải Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Trịnh Hải Đ:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2026/HNGĐ-ST Ngày 08/9/2026 Về việc Tranh chấp về xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dương Thị Cúc.
2. Ông Hoàng Văn Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 233/2026/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2026, về việc Tranh chấp về xác định cha cho con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2026/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trịnh Hải Đ, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn H, xã K, tỉnh Hưng Yên. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 22/01/2024, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C. Vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn N, xã V, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 23/2/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Doãn N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn N, xã V, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 25/06/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trịnh Hải Đ trình bày: Anh Trịnh Hải Đ và chị Hoàng Thị T có quen biết nhau vào năm 2024, có quan hệ tình cảm, trong thời gian đó chị Hoàng Thị T chưa ly hôn với anh Dương Doãn N. Quá trình phát sinh tình cảm, anh Trịnh Hải Đ và chị Hoàng Thị T có một người con chung dự kiến tên là Hoàng Bảo A, sinh ngày 18/4/2026 (chưa được đăng ký khai sinh). Ngày 27/3/2026 chị Hoàng Thị T và anh Dương Doãn N ly hôn với nhau theo quyết định số 43/2026/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn; tại phần con chung thời điểm đó chị Hoàng Thị T đang mang thai con Hoàng Bảo A nên không được giải quyết trong bản án đó. Anh Trịnh Hải Đ đi làm xét nghiệm ADN giữa anh với con Hoàng Bảo A, tại phiếu kết quả phân tích AND số: HID26 46037 ngày 15/6/2026 do Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D thực hiện đã kết luận: “Hai người trên CÓ quan hệ huyết thống: CHA-CON”. Nay anh Trịnh Hải Đ yêu cầu Tòa án xác định anh là cha đẻ của con dự kiến tên là Hoàng Bảo A và yêu cầu Toà án xác định anh Dương Doãn N không phải là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Bảo A. Anh Trịnh Hải Đ yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn chị Hoàng Thị T trình bày tại bản tự khai như sau: Vào khoảng cuối năm 2012, chị Hoàng Thị T kết hôn với anh Dương Doãn N. Trong thời gian hôn nhân chị Hoàng Thị T quen biết anh Trịnh Hải Đ và phát sinh tình cảm. Khi chưa ly hôn với anh Dương Doãn N thì chị Hoàng Thị T có con với anh Trịnh Hải Đ dự kiến tên là Hoàng Bảo A, sinh ngày 18/4/2026 (cháu chưa được đăng ký khai sinh). Để đảm bảo quyền lợi cho con, anh Trịnh Hải Đ và con Hoàng Bảo A đã đi xét nghiệm ADN và có kết luận là có quan hệ huyết thống cha con. Nay chị đồng ý với yêu cầu của anh Trịnh Hải Đ về yêu cầu Tòa án xác định anh Trịnh Hải Đ là cha đẻ của con Hoàng Bảo A. Chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Doãn N trình bày: Anh và chị Hoàng Thị T kết hôn vào năm 2012, sau khi kết hôn hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn theo Quyết định số 43/2026/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn. Thời điểm giải quyết ly hôn, chị Hoàng Thị T không nói với anh Dương Doãn N là có thai với anh Trịnh Hải Đ. Ngày 25/7/2026, anh Dương Doãn N nhận được thông báo thụ lý về việc xác định cha cho con theo yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Hải Đ. Anh Dương Doãn N xác định cháu Hoàng Bảo A không phải con đẻ của anh. Các văn bản, thông báo, giấy triệu tập anh Dương Doãn N đều nhận được nhưng do bận công việc nên anh Dương Doãn N yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại công văn số: 107/2026/CV-GEN ngày 03/8/2026 của Công ty D cho biết: Ngày 12/6/2026 Công ty thu nhận mẫu của ông Trịnh Hải Đ và cháu Hoàng Bảo A. Quá trình thu mẫu được tiền hành như sau: Ông Trịnh Hải Đ, cháu Hoàng Bảo A được trực tiếp thu mẫu máu, chụp ảnh, lăn dấu vân tay và chụp các giấy tờ cá nhân theo đúng thông tin đã khai trên phiếu yêu cầu phân tích AND theo thủ tục hành chính pháp lý. Kết quả phân tích AND đã được Công ty E trả lời trong Phiếu kết quả mã số HID26 46037 ngày 15/6/2026.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tiến hành tố tụng thu thập tài liệu chứng cứ và tống đạt các văn bản, quyết định đúng trình tự thủ tục tố tụng, đã thông báo và giải thích quyền được trợ giúp pháp lý cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ nội dung có liên quan. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Trịnh Hải Đ. Xác định anh Dương Doãn N không phải là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Bảo A, sinh ngày 18/4/2026. Xác định anh Trịnh Hải Đ là cha đẻ của cháu Hoàng Bảo A, sinh ngày 11/4/2025. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Về án phí: Anh Trịnh Hải Đ được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho anh Trịnh Hải Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lại số 0000132 ngày 21/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án Tranh chấp về xác định cha cho con theo quy định tại khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn cư trú tại thôn N, xã V, tỉnh Lạng Sơn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn theo quy định tại khoản 4 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật. Anh Trịnh Hải Đ, chị Hoàng Thị T, anh Dương Doãn N đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Trịnh Hải Đ và chị Hoàng Thị T quen biết và phát sinh tình cảm với nhau từ năm 2024, thời điểm này chị Hoàng Thị T và anh Dương Doãn N là vợ chồng hợp pháp nhưng do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Hoàng Thị T và anh Dương Doãn N chưa làm thủ tục ly hôn. Ngày 26/3/2025 chị Hoàng Thị T và anh Dương Doãn N ly hôn theo Quyết định số 43/2026/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn; tại phần con chung do chị Hoàng Thị T đang mang thai cháu Hoàng Bảo A nên không được giải quyết trong quyết định đó. Nay anh Trịnh Hải Đ và chị Hoàng Thị T đi xét nghiệm ADN giữa anh Trịnh Hải Đ và cháu Hoàng Bảo A. Tại phiếu kết quả phân tích AND số: HID26 46037 ngày 15/6/2026 do Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D thực hiện đã kết luận: “Hai người trên CÓ quan hệ huyết thống: CHA-CON”. Như vậy có căn cứ xác định anh Dương Doãn N không phải là cha đẻ của cháu dự tiến tên là Hoàng Bảo A. Cha đẻ của cháu Hoàng Bảo A là anh Trịnh Hải Đ. Do đó, yêu cầu của anh Trịnh Hải Đ là có căn cứ theo khoản 2 Điều 88, khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn là người yêu cầu giải quyết tranh chấp về xác định cha cho con chưa thành niên nên thuộc trường hợp được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hoàn trả cho anh Trịnh Hải Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000132 ngày 21/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 ; Điều 238; 271; Điều 273 .
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của .
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Trịnh Hải Đ:
1.1. Xác định anh Dương Doãn N không phải là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Bảo A, sinh ngày 18/4/2026 (theo giấy chứng sinh ngày 18/4/2026 của Bệnh viện Đ1 - Đ, TDP Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình).
1.2. Xác định anh Trịnh Hải Đ là cha đẻ của cháu dự kiến tên là Hoàng Bảo A, sinh ngày 18/4/2026 (theo giấy chứng sinh ngày 18/4/2026 của Bệnh viện Đ1
- Đ, TDP Đ, phường D, tỉnh Ninh Bình).
1.3. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Về án phí: Nguyên đơn anh Trịnh Hải Đ được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Trịnh Hải Đ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000132 ngày 21/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Trịnh Hải Đ, bị đơn chị Hoàng Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Doãn N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 3-Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 3-Lạng Sơn; - UBND xã Vũ Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hiệt |