vanban.org

Bản án 63/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh L 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/5/2025. */ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Minh L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HSST.
Ngày: 26/9/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Thống.

2. Bà Nguyễn Thị Tú Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1

- Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2025 tại Hội trường A - Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 –Đắk Lắk, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS, ngày 09/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Minh L; Sinh ngày 30 tháng 9 năm 2004.

Nơi cư trú: T4, phường P, quận L, thành phố Hà Nội (Nay là T4, phường P, thành phố Hà Nội).

Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Đặng Minh T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1973. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án; Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 18/5/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Vũ Văn B, sinh năm:1990; Địa chỉ: Thôn L, xã H, tỉnh Nam Định, vắng mặt.

2. Ông Phạm Ngọc P, sinh năm:1993; Địa chỉ: 56/1 đường T, phường B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

3. Ông Thái Bá P, sinh năm:1998; Địa chỉ: 21 đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

4. Ông Phạm Xuân H, sinh năm:1976; Địa chỉ: 143 đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Bùi Lê Huy A, sinh năm: 2000; Địa chỉ: 47/18 đường T, phường B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1987; Địa chỉ: T4, phường B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm: 1973; Địa chỉ: T4, phường P, thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết với bà Trịnh Thị H, sinh năm 1983, trú tại số 21 đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk, nên vào khoảng đầu tháng 4 năm 2025, bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1973, trú tại t4, phường P, quận L, thành phố Hà Nội (nay là t4, phường P, thành phố Hà Nội), là mẹ ruột của Đặng Minh L, đã gửi L vào sinh sống tại nhà bà H để tìm kiếm việc làm. Tại đây, L ở cùng với anh Thái Bá P, sinh năm 1998, trú tại xã D, tỉnh Nghệ An và anh Vũ Văn B, sinh năm 1990, trú tại xã Ý, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17 tháng 5 năm 2025, L thấy anh B đi ăn sáng có để 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng trong phòng ngủ ở tầng 2 của nhà bà H, nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp. L lén lút lấy chiếc điện thoại trên, rồi cất giấu vào trong túi quần, sau đó đi xuống phòng khách tại tầng trệt của căn nhà, thì nhìn thấy 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone12, màu xanh của anh P đang cắm sạc pin. L tiếp tục lén lút lấy chiếc điện thoại trên, rồi đi tìm nơi tiêu thụ. L một mình đi bộ ra ngoài đường, thì gặp một người lái xe ôm công nghệ (chưa rõ nhân thân, lai lịch), nên L nói thuê người này chở L đến cửa hàng điện thoại, thì được người này đồng ý và chở L đến Cửa hàng điện thoại di động B, địa chỉ tại số 172 đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, L gặp nhân viên cửa hàng là Bùi Lê Huy A, sinh năm 2000, trú tại T5, phường T, tỉnh Đắk Lắk. L đưa chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng để bán, nhưng A hỏi mật khẩu điện thoại, thì L nói: “Điện thoại lâu ngày không sử dụng nên không nhớ!”, nên A nói mua với số tiền 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng, thì L đồng ý bán. Số tiền có được sau khi bán chiếc điện thoại trên, thì L đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, L quay lại Cửa hàng điện thoại B và bán tiếp chiếc điện thoại di động hiệu Iphone12, màu xanh với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn). Số tiền có được sau khi bán chiếc điện thoại trên, thì L đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 14 giờ 50 cùng ngày, khi L đi ngang qua số nhà 38 đường L, phường T, tỉnh Đắk Lắk, thì thấy 01 (một) chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 47AH-047.42 của Phạm Ngọc P, sinh năm 1993, trú tại xã K, tỉnh Đắk Lắk, đang dựng ở trước nhà, trên xe vẫn cắm chìa khóa và xe vẫn nổ máy xe, không thấy ai trông coi, nên L đã lén lút lấy chiếc xe mô tô, rồi điều khiển xe chạy đến Tiệm cầm đồ 285, địa chỉ tại số 143 đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk, do Phạm Xuân H, sinh năm 1976, trú tại địa chỉ trên làm chủ. Tại đây, L nói với H là muốn cầm cố chiếc xe mô tô trên, nhưng H từ chối, vì xe không chính chủ, thì L hỏi mượn điện thoại để gọi cho người quen tên là Tr để hỏi đường về, thì H đồng ý. H đưa chiếc điện thoại di động hiệu Iphone13 Promax, màu xanh cho L gọi điện, nhưng L gọi điện hai lần Tr đều không nghe máy. L dụng lúc H có việc cá nhân phải đi xuống dưới nhà phía sau Cửa hàng, thì L đã cầm chiếc điện thoại trên bỏ chạy, để lại chiếc xe môtô đã trộm trước đó tại Cửa hàng của H. Sau đó, L bắt xe mô tô Grap đi đến Cửa hàng điện thoại B và bán chiếc điện thoại trên với số tiền 1.000.000 (Một triệu đồng). Số tiền có được, L đã tiêu xài cá nhân hết 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi L đang đi lang thang tại khu vực Bến xe phía B, tỉnh Đắk Lắk thì bị cơ quan Công an mời về làm việc.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTX ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Hội đồng định giá thường xuyên - Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, đã kết luận:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát 47AH-047.42, số máy: JA39E2438567, số khung: RLHJA392XMY413333, màu sơn: trắng (đã qua sử dụng), không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong, tài sản thu hồi được, thời điểm định giá tháng 5 năm 2025, trị giá 13.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS màu vàng, dung lượng 64 GB, số Imei: 357205098679420, không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong, tài sản thu hồi được, thời điểm định giá tháng 5 năm 2025, trị giá 3.500.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 Pro max, màu xanh dương, dung lượng 128 GB, số Imei: 355387499648972, không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong, tài sản thu hồi được, thời điểm định giá tháng 5 năm 2025, trị giá 9.000.000 đồng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12, màu xanh, dung lượng 64GB, số Imei: 358503114430482, không kiểm tra tình trạng kỹ thuật bên trong, tài sản thu hồi được, thời điểm định giá tháng 5 năm 2025, trị giá 5.000.000 đồng.

Ngày 06 tháng 8 năm 2025, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên - Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, có Công văn số 206/CV-HĐĐG gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, về việc từ chối việc định giá 04 máy lạnh không rõ nhãn hiệu, năm sản xuất và các thông số kỹ thuật khác và 01 ti vi không rõ nhãn hiệu, năm sản xuất và các thông số kỹ thuật khác, lý do Cơ quan Cảnh sát điều tra không cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến tài sản cần định giá và tài sản cần định giá không thu hồi được.

* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 172/KLGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực T - Bộ Y tế đối với Đặng Minh L, đã kết luận:

- Kết luận về y học: Trước, trong và sau khi gây án (vào ngày 17/5/2025) Đặng Minh L bị bệnh: Loạn thần không thực tổn không biệt định, Giai đoạn bệnh ổn định. (theo Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 có mã bệnh: F29-ICD.10).

- Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi gây án (vào ngày 17/5/2025) Đặng Minh L: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản cáo trạng số: 220/CT-VKS-KV1 ngày 08/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 đã truy tố bị cáo Đặng Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản Cáo trạng số: 220/CT-VKS-KV1 ngày 08/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh L mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù.

*/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về phần xử lý vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS màu vàng, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Vũ Văn B nhận quản lý, sử dụng.

Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 Promax, màu xanh dương, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phạm Xuân H nhận quản lý, sử dụng.

Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12, màu xanh, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Thái Bá P nhận quản lý, sử dụng.

Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát 47AH-047.42, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phạm Ngọc P nhận quản lý, sử dụng.

Đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), là tiền mà bị cáo Đặng Minh L có được từ việc bán chiếc điện thoại đã trộm cắp của Phạm Xuân H. Quá trình điều tra, H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm và đại diện cho Cửa hàng điện thoại B cũng không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường số tiền đã thu mua điện thoại từ L.

-Về phần trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, những người bị hại ông Vũ Văn B, ông Thái Bá P, ông Phạm Xuân H, ông Phạm Ngọc P, không yêu cầu bị cáo Đặng Minh L phải bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết. Ông Nguyễn Tấn H là quản lý của Cửa hàng điện thoại B không yêu cầu bị cáo Đặng Minh L phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, là tiền đã thu mua 03 (ba) chiếc điện thoại di động từ L, nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không tham gia tranh luận gì khác chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Để có tiền tiêu xài, nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17 tháng 5 năm 2025, tại số 21 đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk, Đặng Minh L, đã trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS, màu vàng, trị giá 3.500.000 đồng của Vũ Văn B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12, màu xanh, trị giá 5.000.000 đồng của Thái Bá P. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, trước số nhà 38 đường L, phường T, tỉnh Đắk Lắk, Đặng Minh L trộm cắp 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát 47AH-047.42 trị giá 13.000.000 đồng của Phạm Ngọc P và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 Promax, màu xanh dương, trị giá 9.000.000 đồng của Phạm Xuân H, tại số nhà 285 đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Tổng giá trị tài sản Đặng Minh L đã trộm cắp là 30.500.000 đồng, thì bị phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Như vậy có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Bị cáo Đặng Minh L đã có hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, đồng thời còn gây mất ổn định trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị, nhưng vì ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ tư lợi cá nhân, muốn có tiền từ hành vi bất chính, nên vào ngày 17/5/ 2025, Đặng Minh L, đã trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS, màu vàng, trị giá 3.500.000 đồng của Vũ Văn B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12, màu xanh, trị giá 5.000.000 đồng của Thái Bá P; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát 47AH-047.42 trị giá 13.000.000 đồng của Phạm Ngọc P và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 Promax, màu xanh dương, trị giá 9.000.000 đồng của Phạm Xuân H. Tổng giá trị tài sản Đặng Minh L đã trộm cắp là 30.500.000 đồng thì bị phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét về nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại, vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, quá trình điều tra, Đặng Minh L còn khai nhận: Vào ngày 29 tháng 4 năm 2025, khi L chơi game tại một quán Internet trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk), vì để có tiền tiêu xài cá nhân, nên L đã trộm cắp 04 (bốn) máy lạnh và 01 (một) Ti vi tại nhà của bà Trịnh Thị H. Sau đó, L mượn điện thoại di động của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) ở tiệm Internet gọi vào các số điện thoại trên mạng Internet, rồi bán các tài sản trên cho hai người (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm ngàn đồng), sau đó tiêu xài cá nhân hết. Do tài sản không rõ đặc điểm, thông số kỹ thuật và không thu hồi được, nên Hội đồng định giá đã có văn bản từ chối định giá tài sản. Sau khi sự việc xảy ra, bà Nguyễn Thị Bích H, là mẹ ruột của bị cáo Đặng Minh L đã khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Trịnh Thị H không yêu xử lý, không yêu cầu bồi thường gì. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với hành vi này của bị cáo Đặng Minh L và những người đã mua các tài sản trên từ L là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với Bùi Lê Huy A là người đã mua 03 (ba) chiếc điện thoại di động của bị cáo Đặng Minh L. Nhưng khi mua, thì A không biết nguồn gốc các tài sản trên là do Đặng Minh L trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với A là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với trang mạng “Điện lạnh T”, có các số điện thoại 0903.709.495 và số 0965.470.947, mà bị cáo Đặng Minh L khai đã liên lạc để bán máy lạnh và ti vi. Quá trình điều tra, Cơ quan Công an có Công văn gửi nhà mạng xác định số điện thoại 0965.470.947 do Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1989, trú tại số 14 đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên đăng ký chủ thuê bao. Qua làm việc, Q xác nhận không quen biết và không thu mua máy lạnh và ti vi của Đặng Minh L vào ngày 29 tháng 4 năm 2025. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Q là phù hợp nên cần chấp nhận.

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra cùng nhân thân của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội về sau.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về phần xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS màu vàng, là tài sản của ông Vũ Văn B nhận quản lý, sử dụng.

Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 Promax, màu xanh dương, là tài sản của ông Phạm Xuân H nhận quản lý, sử dụng.

Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12, màu xanh, là tài sản của ông Thái Bá P nhận quản lý, sử dụng.

Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát 47AH-047.42, là tài sản của ông Phạm Ngọc P nhận quản lý, sử dụng.

Cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), là tiền mà bị cáo Đặng Minh L có được từ việc bán chiếc điện thoại đã trộm cắp của ông Phạm Xuân H. Ông H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm và đại diện cho Cửa hàng điện thoại B cũng không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường số tiền đã thu mua điện thoại từ L.

-Về phần trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, những người bị hại ông Vũ Văn B, ông Thái Bá P, ông Phạm Xuân H, ông Phạm Ngọc P, không yêu cầu bị cáo Đặng Minh L phải bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết. Ông Nguyễn Tấn H là quản lý của Cửa hàng điện thoại B không yêu cầu bị cáo Đặng Minh L phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, là tiền đã thu mua 03 (ba) chiếc điện thoại di động từ L, nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đặng Minh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Minh L 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/5/2025.

*/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về phần xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại XS màu vàng, là tài sản của ông Vũ Văn B nhận quản lý, sử dụng.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 13 Promax, màu xanh dương, là tài sản của ông Phạm Xuân H nhận quản lý, sử dụng.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 12, màu xanh, là tài sản của ông Thái Bá P nhận quản lý, sử dụng.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát 47H-047.42, là tài sản của ông Phạm Ngọc P nhận quản lý, sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), là tiền mà bị cáo Đặng Minh L có được từ việc bán chiếc điện thoại đã trộm cắp của ông Phạm Xuân H. Ông H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm và đại diện cho Cửa hàng điện thoại B cũng không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường số tiền đã thu mua điện thoại từ L.

- Về phần trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, những người bị hại ông Vũ Văn B, ông Thái Bá P, ông Phạm Xuân H, ông Phạm Ngọc P, không yêu cầu bị cáo Đặng Minh L phải bồi thường gì thêm, nên không đề cập giải quyết. Ông Nguyễn Tấn H là quản lý của Cửa hàng điện thoại B không yêu cầu bị cáo Đặng Minh L phải bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, là tiền đã thu mua 03 (ba) chiếc điện thoại di động từ L, nên không đề cập giải quyết.

*/ Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Minh L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ